Khóa học ở Liên Hiệp Quốc của Vy

Tôn Nữ Tường Vy (24 tuổi, cựu sinh viên Trường ĐH Mở TP.HCM) vừa được chọn tham dự khóa học mùa hè của Liên Hiệp Quốc (UNAOC – EF Summer School) tại New York (Mỹ) từ ngày 16 đến 23-8 năm nay.

vy

Vy là một trong 75 bạn trẻ ở 75 quốc gia được lựa chọn từ 15.000 đơn đăng ký dự tuyển. Trong một tuần, các đại biểu sẽ cùng trao đổi, thảo luận về hòa bình, an ninh, phát triển, truyền thông, tôn giáo, công dân toàn cầu có trách nhiệm…Trò chuyện với Tuổi Trẻ sáng 27-5, Tường Vy nói:

-Khóa học mùa hè là cơ hội tốt để tôi thử thách bản thân với những tiêu chuẩn cao hơn và học hỏi nhiều hơn.

Gửi thông điệp hòa bình cho biển Đông

* Bạn thuyết phục ban tổ chức như thế nào để được chọn trong 15.000 hồ sơ dự tuyển từ các ứng viên trên thế giới?

– Để thuyết phục ban tổ chức tôi đưa ra ba ý chính trong hồ sơ. Đầu tiên tôi nêu những kinh nghiệm của mình trong quá khứ, hiện tại làm gì và những gì có thể làm trong tương lai. Bên cạnh đó, tôi cũng đưa ra quan điểm của mình về hai vấn đề biển Đông và tôn giáo. Tôn giáo, chính trị, phát triển, nhân quyền nằm trong chủ đề của khóa học này.

* Khóa học sẽ trao đổi, thảo luận về nhiều vấn đề, đâu là lĩnh vực bạn quan tâm nhất và muốn thảo luận cùng bạn bè quốc tế?

– Đó là vấn đề thương lượng xây dựng hòa bình và hợp tác. Hiện tôi đang tìm hiểu các tài liệu, thông tin để tham gia thảo luận một cách tốt nhất. Tôi cũng đang kết nối với những đại biểu khác để làm quen, trao đổi và thảo luận trước các vấn đề liên quan.

* Những ngày này Trung Quốc đang gây hấn tại vùng biển của nước ta. Bạn có đem câu chuyện này vào thảo luận trong khóa học của mình?

– Tôi sẽ đưa vấn đề về biển Đông ra thảo luận trong thời gian đi thăm trụ sở Liên Hiệp Quốc. Khóa học có một số bạn đến từ những nước và vùng lãnh thổ liên quan đến vấn đề biển Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Hong Kong, Indonesia, Malaysia và tôi từ VN là sáu người. Nếu được, tôi sẽ cùng các bạn này thảo luận, cùng ký tên chuyển thông điệp hòa bình cho biển Đông gửi Liên Hiệp Quốc.

Đưa hình ảnh VN đến thế giới

* Bạn sẽ làm gì để giới thiệu hình ảnh VN đến với 74 bạn trẻ từ 74 quốc gia khác?

– Giới thiệu hình ảnh quốc gia sẽ có phần hữu hình và vô hình. Phần hữu hình tôi sẽ mang theo những vật phẩm văn hóa. Tôi thấy con chuồn chuồn tre là đồ vật rất hay của trò chơi dân gian VN. Bạn bè tôi ở nước ngoài nói mỗi lần nhìn nó tự thăng bằng như được tiếp thêm sức mạnh và không gục ngã. Vì vậy đó sẽ là món quà ý nghĩa tôi mang theo tặng các bạn.

Phần vô hình chính là tư cách của mình. Khi tôi nói chuyện với bạn tôi là Tường Vy. Nhưng đi ra quốc tế người ta chỉ biết tôi là người VN thôi. Cho nên cách mình nói chuyện, trình bày, đối xử với người khác là hình ảnh của VN. Hình ảnh của VN cũng được thể hiện qua sự thiện chí làm việc nhóm. Tôi sẽ không nói nhiều việc VN trải qua đau thương chiến tranh mà vẫn vươn lên. Nhưng tôi nghĩ bạn bè quốc tế vẫn có thể cảm nhận được điều đó qua cách tôi làm việc, nói chuyện, chia sẻ và những kết nối về sau…

* Nhiều bạn trẻ ấp ủ dự định tham dự các chương trình văn hóa, hội thảo, hội nghị ở nước ngoài. Bạn có chia sẻ gì với những bạn ấy?

– Theo kinh nghiệm của tôi, đầu tiên bạn sẽ xem động lực của mình có đủ lớn hay không và vì sao lại có động lực đó. Các bạn muốn tham gia chương trình để ra nước ngoài, để chụp ảnh “khè” với bạn bè hay là bạn muốn mở rộng mối quan hệ, mở mang về kiến thức. Làm rõ những động lực đó qua thời gian bạn sẽ đo được mình ham thích mãnh liệt như thế nào. Bởi những người không nản mới thật sự trụ lại được.

Bên cạnh đó, bạn cũng cần trau dồi thêm tiếng Anh. Cuối cùng là kiên trì. Năm trước tôi cũng nộp đơn cho chương trình này nhưng không được chọn. Sau khi rớt, tôi đã viết thư điện tử hỏi anh bạn được chọn góp ý cho tôi. Tôi thật sự vui vì mình đã đạt được kết quả cho việc kiên trì của mình. Hãy cứ kiên trì và biết rõ mình hướng đến điều gì rồi bạn sẽ được đền đáp.

Made by Samsung và những chuyện chưa bao giờ kể

Những mẩu chuyện nhỏ về con đường chinh phục vị trí tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới của Samsung từ khởi nguồn của 1 công ty… bán gạo.

Mới chỉ cách nay vài năm, nói đến Samsung, điều đầu tiên hiện lên trong đầu tôi là những chiếc điện thoại dạng nắp gập nhỏ nhắn, giá rẻ và… rất hay đứt cáp màn hình. Ngay từ khi biết sử dụng điện thoại, đối với tôi Samsung luôn là 1 thương hiệu “hạng hai” dành cho các bà nội trợ, trẻ con và người cao tuổi.

Hiện giờ trên mặt bàn làm việc của tôi đang là 1 chiếc Galaxy Note 2, nâng cấp từ Samsung Galaxy Note, ấn tượng ngày nào về 1 thương hiệu “hạng hai” vẫn còn đó, nhưng để thỏa mãn những nhu cầu của mình về 1 chiếc smartphone màn hình lớn, pin “trâu” và chất lượng ổn định, tôi không tìm được giải pháp nào phù hợp hơn Galaxy Note 2.

Dù thích hay ghét Samsung, chúng ta không thể không thừa nhận với nhau 1 điều rằng trong hoàn cảnh thị trường smartphone hiện giờ vẫn là cuộc đua song mã giữa Samsung và Apple trong khi tất cả các nhà sản xuất còn lại đều đang giãy giụa với nỗ lực “trụ hạng” hoặc thậm chí là chiến đấu giành quyền tồn tại, chắc chắn Samsung phải có “công thức bí mật” tạo nên sự thành công của mình.

Trong bài viết này tôi không có tham vọng đi phân tích nguyên nhân về sự thành công của Samsung mà sẽ chỉ đơn thuần kể cho các bạn 3 câu chuyện nhỏ về Samsung. Những câu chuyện mà không phải ai cũng biết về 1 công ty đã và đang dần dần từng bước tiến lên ngôi vị thống lĩnh ngành hàng điện tử gia dụng trên quy mô toàn cầu.

Câu chuyện 1: Bài diễn văn 8500 trang và 2000 hạt giống giá 100 triệu USD

Hiện tại Samsung là 1 trong những tập đoàn tư nhân lớn và lâu đời nhất Hàn Quốc, tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu của Samsung chiếm 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc và đóng góp khoảng 17% GDP cho Nam Hàn, nổi tiếng với 3 ngành kinh doanh chính là Điện máy, Hóa chất và Xây Dựng. Ảnh hưởng của Samsung ở xã hội Hàn Quốc lớn tới mức tập đoàn này gần như trở thành 1 quyền lực thứ 2 bên cạnh chính phủ. Năm 2008 khi chủ tịch Lee Kun Hee của Samsung bị cáo buộc gian lận thuế và bị tuyên án 3 năm tù giam cho hưởng án treo, chính tổng thống Hàn Quốc Lee Muyng Bak lúc bấy giờ đã đặt cược sinh mạng chính trị của mình khi ra lệnh ân xá cho ông này gây nên 1 làn sóng phản đối khá ầm ĩ trong xã hội nước này.

Thành lập năm 1938 với khởi nguồn là 1 công ty thương mại chuyên kinh doanh bột gạo và len… cái tên Samsung có phiên âm Hán Việt là “Tam Tinh” có nghĩa là “Ba ngôi sao”. Đến những năm thập niên 60, Samsung mới bước vào ngành hàng điện tử. Đến mãi tận đầu những năm 90, các sản phẩm của Samsung hầu như chỉ có ý nghĩa tiêu dùng trong nước vì khi xuất khẩu ra những thị trường khó tính hơn như Châu Âu, Mỹ, sản phẩm của Samsung thường “lép vế” vì chất lượng thấp dù giá thành rẻ mạt. Cũng giống như các sản phẩm Made in China bây giờ, Made by Samsung sử dụng lợi thế nhân công giá rẻ của Hàn Quốc sau chiến tranh Nam-Bắc Hàn để sản xuất hàng loạt trong khi chất lượng sản phẩm thì phần nào bị “thả nổi”.

Năm 1987, chủ tịch sáng lập Samsung qua đời, 2 tuần sau đó Lee Kun Hee, con trai thứ 3 của ông này tiếp quản đế chế Samsung. Đứng trước 1 Samsung đang khá trì trệ của những năm 80, Lee Kun Hee quyết định bắt đầu chiến dịch thay đổi cách làm việc của Samsung bằng cách… không đến công ty. Làm việc tại nhà ở ngoại ô Seoul, nhất định không nghe điện thoại và tiếp khách, Lee Kun Hee muốn buộc các quản lý cấp dưới của mình phải tự ra quyết định và chịu trách nhiệm trước các quyết định đó. Dưới sự lãnh đạo của Lee Kun Hee, giá trị vốn hóa của Samsung tăng gấp 2,5 lần sau 6 năm từ 1988-1993. Ai cũng nghĩ mọi chuyện thế là đâu vào đấy và Lee đã hài lòng.

samsung1

Năm 1993, Lee Kun Hee mang theo bộ sậu lãnh đạo cao cấp của Samsung đi tới Mỹ và các nước châu Âu để “mở mắt” cho cấp dưới của mình về sức cạnh tranh yếu kém của các sản phẩm Samsung trên thị trường quốc tế. Lee cho rằng chứng kiến sự èo uột của Samsung tại thị trường nước ngoài sẽ thức tỉnh đội ngũ lãnh đạo của mình. Tới đâu đoàn thăm quan cũng gặp cảnh sản phẩm của Sony, Panasonic hãnh diện trưng lên tủ kính còn đồ của Samsung thì bị dúi vào chỗ hứng bụi ở góc khuất của cửa hàng. Lúc ấy Lee mới hỏi bộ sậu xung quanh: “Tôi muốn năm 2000 Samsung trở thành 1 công ty tầm cỡ quốc tế, với tốc độ tăng trưởng như thế này, liệu chúng ta có thể đạt tới vị trí đó vào năm 2000 hay không? Câu trả lời : Không”.
 
Đối diện với sự giận dữ của chủ tịch tập đoàn, những lãnh đạo cấp cao của Samsung không biết làm gì ngoài gãi đầu gãi tai, đối với tư duy của những người đã quen tâm lý thỏa mãn, tăng trưởng 2,5 lần trong vòng 6 năm đã là 1 con số trong mơ. Đến tháng 6/1993, khi đoàn thị sát tới Frankfurt, Đức. Lee Kun Hee nhận được bản báo cáo từ 1 cố vấn người Nhật tại Trung Tâm Thiết Kế Samsung. Bản báo cáo phơi bày những thực tại đáng buồn như việc cả 1 văn phòng với mấy trăm con người hoạt động hết sức uể oải. Thậm chí cả một dây chuyền kiểm tra sản phẩm rất đắt tiền nằm phủ bụi mất mấy tuần chỉ vì hỏng… ổ cắm điện mà cũng không ai thèm đụng tay.
 
Made by Samsung và những chuyện chưa bao giờ kể 2
Đã có lúc ở Samsung nhân viên ì trệ tới mức chả buồn vận hành 
cả 1 dây chuyền đắt tiền chỉ vì hỏng…ổ cắm.
 
Phẫn nộ với sự thờ ơ của các nhân viên dưới quyền, Lee triệu tập 1 cuộc họp khẩn cấp với hàng trăm lãnh đạo cao cấp của Samsung tại ngay Frankfurt. Cuộc họp kéo dài… 3 ngày về sau này được nhắc tới với cái tên “Tuyên ngôn Frankfurt 1993”. Một trong những câu nói trở thành bất hủ của Lee trong “Tuyên ngôn Frankfurt” là: “Các anh hãy thay đổi tất cả trừ vợ và con”. Thúc giục nhân viên dưới quyền tự “dịch kinh tẩy tủy”, “Nếu đến 1994 Samsung không thể sản xuất được những chiếc điện thoại đủ sức cạnh tranh với đồ của Motorola thì Samsung sẽ tự đặt mình ra ngoài ngành công nghiệp điện thoại”.
 
Nội dung của “Tuyên ngôn Frankfurt” được cô đọng lại thành “Chính sách quản lý mới” của Samsung và trình bày thành 1 cuốn sách 200 trang, phát đến tận tay cho từng công nhân. 1 quyển phụ lục riêng để giải nghĩa các khái niệm trong “Chính sách quản lý mới” được phát hành sau đó. Thậm chí những công nhận đọc viết không thông thạo còn được nhận 1 phiên bản vẽ theo phong cách… truyện tranh nhằm diễn giải dễ hiểu các gạch đầu dòng quan trọng của chính sách mới.
 
Kể từ đó, “Chính sách quản lý mới” được coi như thánh kinh của Samsung, thậm chí cả căn phòng khách sạn nơi diễn ra cuộc họp năm 1993 cũng được Lee cho “bốc” về tổng hành dinh của Samsung ở Hàn Quốc và tái tạo nguyên bản để làm nơi “thờ phụng”, tồn tại như 1 vật chứng nhắc nhở nhân viên Samsung không bao giờ tự thỏa mãn và luôn khát khao hướng đến chất lượng sản phẩm để chinh phục thị trường quốc tế.
 
Không chỉ dừng ở đó, sau “Tuyên ngôn Frankfurt”, Lee dành 2 tháng tiếp theo đi khắp các chi nhánh của Samsung trên thế giới, từ London đến Osaka để trực tiếp truyền đạt khát vọng thay đổi của mình đến từng lãnh đạo dưới quyền. 350 giờ thuyết giảng của Lee trong 2 tháng ấy sau khi được ghi chép lại chiếm hết 8500 trang giấy.
 
Trong những năm sau “Tuyên ngôn Frankfurt”, Samsung trở thành 1 trường đại học khổng lồ. “Trường dạy CEO Samsung” ra đời tháng 9/1993, 3 tháng sau “Tuyên ngôn Frankfurt” đón 850 học viên là tất cả số quản lý cấp cao của Samsung tại thời điểm đó đến đào tạo trong 6 tháng, 3 tháng tại chỗ và 3 tháng ở nước ngoài. Khi các học viên thực tập ở nước ngoài Lee cấm họ không được di chuyển bằng máy bay mà phải sử dụng các phương tiện đường bộ như ô tô, tàu, bus để cảm nhận rõ ràng hơn văn hóa nước sở tại. 
 
Made by Samsung và những chuyện chưa bao giờ kể 3
Trong 5 năm từ 1994 đến 1999 mỗi năm Samsung chọn ra 400 người trẻ tuổi có ít nhất 3 năm kinh nghiệm, nhét vào tay họ 1 nắm tiền và tung đội ngũ này ra nước ngoài trong 1 năm, mặc cho họ đi đâu, làm gì thì tùy. Lee hi vọng đội ngũ hạt giống này có thể trở về với hiểu biết và kinh nghiệm sâu sắc về thị trường bản địa mà họ tới “nằm vùng”. Sau khi trở về từ nước ngoài, đội ngũ hạt giống này sẽ trở thành chủ lực cho chính sách “tập đoàn toàn cầu, thấu hiểu địa phương” của Samsung. Trong 5 năm từ 1994 đến 1999 chỉ riêng chương trình gieo giống của Samsung ước tính đốt hết 100 triệu USD để đào tạo 2000 hạt nhân chủ chốt cho kế hoạch đánh chiếm thị trường thế giới của mình.
 
Đến tận bây giờ Trung tâm phát triển nhân lực của Samsung đóng ở Hàn Quốc vẫn tiếp nhận khoảng 50 ngàn học viên mỗi năm. Công cuộc “luyện quân” của Samsung kéo dài suốt hơn 20 năm đến bây giờ vẫn không hề có dấu hiệu “lão suy”.
 
Câu chuyện thứ 2: “7 đến 4” và 5%
 
Để hiểu hơn về câu chuyện này, hãy quay trở lại 1 chút vào thời điểm cuối những năm 1960 khi Lee Byung-Chul người sáng lập Samsung, cha của Lee Kun Hee tìm kiếm người kế vị mình trong số 3 người con trai. Người Hàn Quốc vốn rất kiêng kỵ việc “phế trưởng lập thứ” thấy bị sốc khi Byung-Chul sa thải 2 người con trai lớn đang làm việc tại Samsung để đảm bảo Lee Kun Hee có thể danh chính ngôn thuận bước lên ngai vàng mà không sợ bị 2 anh tranh giành quyền lực sau khi cha mất. Là con trai út, Lee Kun Hee sở hữu 1 tính cách khá trầm lặng nhưng lại vô cùng quyết liệt.
 
Có lẽ chính vì sự quyết liệt ấy mà khi Lee Kun Hee tuyên bố mình sẽ đổi giờ làm việc của Samsung sang khung 7 h sáng đến 4h chiều, không 1 ai trong số hơn 50 ngàn nhân viên của Samsung năm 1993 dám cãi lời chủ tịch. Trong khi giờ làm việc của người Hàn Quốc bắt đầu lúc 9h sáng và kết thúc lúc 6h chiều, Lee Kun Hee yêu cầu tất cả nhân viên của mình rời nhiệm sở lúc 4h chiều để giành thời gian cho các hoạt động xã hội cũng như tham gia những khóa đào tạo ngoài giờ của tập đoàn. Sau 4h chiều, Lee Kun Hee thường tự mình gọi điện đến các bộ phận của Samsung một cách ngẫu nhiên, bất kỳ ai trả lời điện thoại sau 4h chiều đều bị quở mắng thậm tệ.
 
Made by Samsung và những chuyện chưa bao giờ kể 4
Chính sách thay đổi giờ làm tại Samsung gây ảnh hưởng tới 1 bộ phận lớn công nhân viên. 
Nhưng không ai dám có nửa lời than vãn.
 
Cũng có lẽ vì tính cách quyết liệt đó, khi Lee ra quyết định đưa ra các chính sách đào tạo của mình, ông đã dự tính sẵn “5-10% nhân sự không thể thay đổi sẽ phải ra đi, 25-30% thấy sự thay đổi khó khăn sẽ được giao ít trách nhiệm hơn (giáng chức), chỉ 5-10% quản lý “cải tạo tốt” mới trở thành hạt nhân của chế độ mới”. Kết quả là trong suốt những năm cuối thập niên 90, không 1 công ty nào trên thế giới có tốc độ thay đổi nhân sự ở các vị trí lãnh đạo cao cấp nhanh như Samsung.
 
Dù cha của Lee có chọn con út làm người kế vị vì tính cách quyết liệt của ông hay không thì chúng ta cũng phải thừa nhận 1 điều rằng đây là sự lựa chọn hoàn toàn đúng đắn. Doanh số của Samsung đã tăng trưởng 51 lần từ khi Lee lên nắm quyền năm 1987.
 
Câu chuyện thứ 3: “Lửa thiêu Bác Vọng”
 
Năm 1988, Samsung sản xuất ra mẫu điện thoại đầu tiên của mình: SH-100. Sau gần 20 năm bị Nokia “đè đầu cưỡi cổ”, Samsung giờ đây đã là tân vương của làng sản xuất điện thoại toàn cầu với các sản phẩm smartphone thuộc dòng Galaxy S và Galaxy Note được đón nhận nồng nhiệt.
 
Năm 1991, Samsung bắt đầu sản xuất tấm nền LCD để bán cho các đối tác. Năm 2013, ti vi LCD thương hiệu Samsung đang là bá chủ thị trường.
 
Năm 1994, Samsung bắt đầu sản xuất chip nhớ flash. Năm 2013, sản lượng chip nhớ flash và DRAM của Samsung gần bằng tất cả các hãng còn lại cộng vào.
 
Tháp Petronas ở Malaisia, tháp Taipei 101 Đài Loan, tòa nhà Burj Khalifa tại Dubai, 3 trong số 10 công trình cao và ấn tượng nhất thế giới đều có chung 1 nhà thầu chính: Samsung.
 
Made by Samsung và những chuyện chưa bao giờ kể 5
3 trong số 10 tòa tháp nằm trong danh sách này do Samsung làm thầu chính.
 
Tất cả những thành công ấy không đến trong ngày 1 ngày 2 sau “Tuyên ngôn Frankfurt”. Ngay cả khi đã áp dụng những biện pháp huấn luyện cực kỳ quyết liệt, Samsung vẫn chưa thể thực sự loại bỏ toàn bộ “tàn dư” của lối làm việc cũ. Tháng 11/1993, khi Samsung cho ra đời mẫu SH-700, Lee-Kun-Hee đã rất tự hào đem một số máy đi làm quà tặng năm mới. Khi Lee biết rằng 1 số máy mình tặng bị hỏng khi vừa ra khỏi hộp, ông yêu cầu nhân viên dưới quyền tập trung tất cả 150 ngàn máy SH-700 trong kho thành 1 đống, triệu tập hơn 2000 nhân viên Samsung đến và đốt tất cả đống sản phẩm lỗi. Khi lửa tắt, máy ủi được điều đến cày xới tan nát phần còn lại. “Nếu các anh tiếp tục làm ra những sản phẩm chất lượng kém, tôi sẽ quay lại và làm y như vừa nãy”. Tháng 5/2012, 3 tuần trước khi Galaxy S3 lên kệ, có người phàn nàn rằng chất lượng lớp sơn ở sản phẩm sắp bán không đẹp được như sản phẩm mẫu. Sau khi điều tra rằng lời phàn nàn này là đúng sự thực “phần vân xước không được mịn như hàng mẫu”, 100 ngàn ốp lưng Galaxy S3 đang ở trong kho và cả hàng chờ xuất ở sân bay bị lôi ra tiêu hủy và thay thế.
 
Thay cho lời kết
 
Dù yêu hay ghét hoặc thậm chí là thờ ơ với Samsung, chúng ta không thể phủ nhận rằng sự vươn lên của Samsung từ 1 nhà sản xuất “hạng hai” lên thành thế lực quan trọng nhất trong ngành công nghiệp điện thoại toàn cầu là 1 kì tích. Dù kì tích ấy bắt nguồn từ sự nghiêm khắc trong khâu quản lý chất lượng, từ những đợt “luyện quân” cật lực hay chỉ đơn giản là cách chọn điểm rơi thị trường đúng đắn thì câu chuyện về 1 Samsung không sợ thay đổi vẫn là một trong những tiết mục “truyện đọc đêm khuya” ưa thích của tôi.
 
Made by Samsung và những chuyện chưa bao giờ kể 6
 
Với những gì Samsung thể hiện ở Galaxy S4, tôi tin tưởng rằng con đường củng cố ngôi vô địch của Samsung vẫn chưa dừng lại tại đây. Trong khi Apple đang xoay sở tìm cách thoát ra khỏi lối mòn, Nokia vẫn đang bếp bênh bên bờ tụt hạng, BlackBerry và Sony, HTC cùng đang nắm tay nhau tụt dốc, hiện tại Samsung đang là công ty thú vị nhất trong số các nhà sản xuất smartphone. Thực sự hi vọng tôi có thể trở lại chủ đề Samsung trong 1 ngày gần đây.
 
Theo GENK

Đại sứ Nguyễn Quốc Cường: Các bạn hãy luôn Máu lửa, Năng động và Sáng tạo.

“Tôi mong được tham dự những diễn đàn, những hoạt động có chiều sâu do chính các bạn tổ chức để quy tụ trí tuệ của đông đảo thành viên vào việc nghiên cứu, đề xuất những chính sách phát triển cho đất nước”, Đại sứ Nguyễn Quốc Cường.

Nhân kỷ niệm 1 năm ngày thành lập Hội Thanh niên sinh viên Việt Nam tại Mỹ, Ban biên tập Sinhvienusa.org đã có cuộc trao đổi hết sức thú vị với Đại sứ Nguyễn Quốc Cường, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ.

dai su quoc cuongĐại sứ Nguyễn Quốc Cường

Với cương vị là người đại diện của Chính phủ Việt Nam tại Hoa Kỳ và là người đã hỗ trợ rất nhiều cho quá trình hình thành và phát triển của Hội Thanh niên – Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ, xin ông cho biết những đánh giá và cảm nhận về sự hình thành và phát triển của Hội trong thời gian qua?

Đại sứ Nguyễn Quốc Cường: Trước hết, tôi muốn gửi lời chúc mừng thân ái nhất tới Hội và toàn thể các thành viên, các lưu học sinh Việt Nam trên khắp nước Mỹ nhân dịp Hội Thanh niên – Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ vừa tròn 1 tuổi.

Tôi rất vui mừng được chứng kiến sự ra đời của Hội, và lần đầu tiên hơn 16.000 thanh niên, sinh viên Việt Nam đang sinh sống, học tập tại Mỹ đã có được một “mái nhà chung” thực sự của chính mình.

Có lẽ đây cũng là một trong những sự kiện có ý nghĩa nhất, một “dấu ấn” không thể quên trong hơn 3 năm tôi đảm nhận cương vị Đại sứ Việt Nam tại Mỹ và tôi cũng rất tự hào, như các bạn có đánh giá trong câu hỏi, là tôi cùng với các Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở Mỹ đã đóng góp vào việc hình thành và phát triển của Hội.

Tôi cho rằng sự ra đời và phát triển của Hội trong vòng 1 năm qua không chỉ thể hiện nguyện vọng thiết tha của đông đảo lưu học sinh Việt Nam tại Hoa Kỳ đoàn kết, gắn bó, cùng chia ngọt sẻ bùi, giúp đỡ nhau ở nơi xa quê hương đất nước. Đây còn là bằng chứng sinh động nhất về sự trưởng thành và lớn mạnh cả về lượng và chất của cộng đồng thanh niên – sinh viên Việt Nam ở Hoa Kỳ.

Điều tâm đắc nhất của ông với hoạt động của Hội là gì? 

Đại sứ Nguyễn Quốc Cường: Đó chính là sự năng động, sự sáng tạo và nhiệt huyết của tuổi trẻ. Tôi vẫn thường nói với anh em ở các CQĐD là chỉ cần đưa ra vài lời khuyên có tính định hướng thôi, còn chính Hội, các thành viên chủ chốt của Hội và các em lưu học sinh sẽ là người tự quyết định tất cả các hoạt động của Hội. Và tôi nghĩ mình đã không nhầm khi đặt toàn bộ niềm tin vào nhiệt huyết của tuổi trẻ, vào sự năng động và sáng tạo của trí tuệ trẻ Việt Nam.

Thực tế hoạt động sôi nổi, đa dạng và phong phú của Hội theo mô hình phi tập trung trong một năm qua đã chứng minh cho điều đó. Chính các bạn đã tự phát triển về tổ chức, lập ra nhiều chi hội ở các bang, gắn kết được đa phần lưu học sinh học tập ở Mỹ, thậm chí cả các cựu lưu học sinh, và mở rộng mạng lưới, quan hệ với các hội thanh niên-lưu học sinh ta ở các nước khác nữa. Tôi thích thú theo dõi các hoạt động sôi nổi của các bạn từ văn hóa, thể thao đến các công trình nghiên cứu thiết thực, các cuộc thi như Hành trình nước Mỹ, Vòng tay nước Mỹ, trang tin www.sinhvienusa.org, gây quỹ ủng hộ đồng bào lũ lụt, giúp đỡ thanh niên nghèo du học…

Tôi thật sự xúc động khi thấy các em sinh viên mặc áo hình cờ Tổ quốc, giương cao những lá cờ Tổ quốc “xuống đường” ở Washington D.C, ở New York, ở San Francisco và nhiều nơi khác trên đất Mỹ để biểu thị lòng yêu nước, phản đối các hành vi xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông vừa qua. Các em vừa đi, vừa hô vang các khẩu hiệu, vừa hát vang các bài ca kết đoàn… Đó là những hình ảnh thật đẹp và đáng nhớ.

Theo ông, những vấn đề mà Hội có thể làm tốt hơn hoặc nên có vai trò lớn hơn nữa?

Đại sứ Nguyễn Quốc Cường: Mới ra đời được 1 năm, Hội đã có những bước trưởng thành và nhiều hoạt động bổ ích rồi. Tôi nghĩ, thời gian tới Hội nên tập trung vào một số định hướng sau:

Một là, tiếp tục thực sự là”nơi hội tụ” cho tất cả các sinh viên Việt Nam tại Mỹ. Tôi mong các bạn sẽ tiếp tục hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và học tập; tôi mong các bạn tiếp tục có các hoạt động phong phú, đa dạng đúng “chất sinh viên”.

Hai là, “nối vòng tay lớn ” kết nối các sinh viên từ Việt Nam với các sinh viên gốc Việt, các sinh viên Việt Nam mang quốc tịch Hoa Kỳ. Không thể phủ nhận là có những rào cản về lịch sử, văn hóa, môi trường sống… nhưng không có lý do gì để những người cùng cội nguồn Việt Nam, cùng con Lạc cháu Hồng lại không thể cùng chung tay, cùng “bàn tay ta nắm nối trọn một vòng Việt Nam” như Trịnh Công Sơn đã viết.

Ba là, “mở rộng mạng lưới” kết nối với các cựu sinh viên Việt Nam tại Mỹ, tại Việt Nam và tại các nơi khác trên thế giới..

Bốn là, tiếp tục gắn bó với đất nước, đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Tôi biết các bạn cũng rất trăn trở, cũng rất muốn đóng góp nhiều hơn cho đất nước.

Tôi mong được tham dự những diễn đàn, những hoạt động có chiều sâu do chính các bạn tổ chức để quy tụ trí tuệ của đông đảo thành viên vào việc nghiên cứu, đề xuất những chính sách phát triển cho đất nước.

Ông có điều gì muốn gửi gắm Hội về những hoạt động trong thời gian tới?

 Đại sứ Nguyễn Quốc Cường: Hãy giữ đúng chất sinh viên Việt Nam: Máu lửa, Năng động và Sáng tạo.

Và đừng bao giờ quên, chính các bạn là những “đại sứ lưu động” đại diện cho một nước Việt Nam đổi mới và đang thực sự hội nhập quốc tế nhé.

Xin cảm ơn ông.

Ban biên tập Sinhvienusa.org

 

Tận dụng nguồn lực “thứ ba”

Những lời khuyên đáng được Việt Nam ghi nhận và tham khảo trong bối cảnh tranh chấp trên biển Đông.

Trong khi Việt Nam đã có sẵn nhiều bằng chứng lịch sử và khoa học về chủ quyền thì Trung Quốc chẳng bao giờ muốn quốc tế hóa tranh chấp về Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam.

Trong hai năm 1961 và 1962, Cục Quản lý điện nước (PUB) của Singapore đã ký hai thỏa ước với chính quyền tiểu bang Johor của Malaysia để mua nước với một mức giá cố định trong thời hạn lần lượt là 50 năm (hết hiệu lực vào tháng 8-2011) và 99 năm (hết hiệu lực vào năm 2061).

Năm 1965, khi Singapore rời Liên bang Malaysia để trở thành một quốc gia độc lập, Thỏa ước Chia cắt (Separation Agreement) được hai quốc gia ký kết có kèm theo một điều khoản quan trọng là Chính phủ Liên bang Malaysia đảm bảo tiểu bang Johor sẽ tiếp tục thực hiện những điều đã cam kết trước đây.

Thế nhưng, mỗi khi có căng thẳng phát sinh trong quan hệ song phương, các chính trị gia Malaysia thuộc đảng cầm quyền UMNO lại thỉnh thoảng dùng lá bài này để hù dọa Singapore.

Thành công của Singapore trong việc yêu cầu Malaysia cam kết thực hiện hai thỏa ước cung cấp nước nói trên là một câu chuyện dài, nhưng kinh nghiệm mà nhiều quốc gia châu Á có thể tham khảo và áp dụng là khả năng tận dụng các nguồn lực thứ ba trong việc giải quyết ổn thỏa tranh chấp mà Giáo sư Shunmugam Jayakumar gọi ngắn gọn là “Bên thứ ba” (“Third-party”).

diplomacy__a_singapore_experience
Bài học về “Kinh nghiệm ngoại giao Singapore”, đặc biệt là trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, theo Giáo sư Shunmugam Jayakumar, nguyên Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Điều phối an ninh quốc gia Singapore, nguyên Đại diện thường trực của Singapore tại Liên hiệp quốc

Lựa chọn bên thứ ba

Theo ông Jayakumar, thực tiễn quan hệ song phương giữa các nước không tránh khỏi việc phát sinh tranh chấp hay bất đồng.

Không phải tranh chấp nào cũng có hàm ý pháp lý (legal overtone) hay liên quan đến những điều khoản của thỏa ước nào đó.

Tuy nhiên, nếu có, quan điểm nhất quán của Singapore là đề nghị sử dụng những cơ chế giải quyết tranh chấp của bên thứ ba, cho dù phải thông qua trọng tài hay tài phán quốc tế, ví dụ như Tòa án Công lý quốc tế (ICJ).

Ông cho rằng giải quyết tranh chấp qua bên thứ ba là cách xử lý một cách ổn thỏa những vấn đề đã đi vào ngõ bế tắc.

Chính phủ hai quốc gia vẫn có thể tiếp tục theo đuổi những khía cạnh hợp tác song phương khác trong lúc diễn ra quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh.

Đáng lưu ý là “bên thứ ba” mà ông Jayakumar muốn nói ở đây không chỉ giới hạn trong việc dựa vào trọng tài hay tài phán quốc tế mà còn là một loạt những cơ chế hay lựa chọn để giải quyết vấn đề một cách êm thấm như hòa giải (conciliation), điều đình (mediation), phái đoàn tìm kiếm dữ kiện (fact-finding missions) và những nhân vật có uy tín của các tổ chức quốc tế, thậm chí đến cả Tổng thư ký Liên hiệp quốc.

Một số cơ chế “thứ ba” khác có thể gồm các đại diện mang tính chính trị như Hội đồng cao cấp các đại diện cấp bộ trưởng trong khuôn khổ Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á của ASEAN.

Hầu hết các cơ chế này đều có những thẩm phán hay chuyên gia về pháp lý hay trong các lĩnh vực khác.

Mặt khác, vị giáo sư luật hành nghề ngoại giao này cũng lưu ý rằng giải quyết tranh chấp bằng bên thứ ba không phải lúc nào cũng là phương thức phù hợp áp dụng cho mọi trường hợp mà thỉnh thoảng nó được triển khai trên phương diện chiến thuật để buộc đối phương xem xét lại những quyền lợi của mình.

Điều quan trọng là chọn đúng thời điểm để đưa ra lá bài phù hợp.

Những điểm cần lưu ý

Cũng theo ông Jayakumar, giải quyết tranh chấp qua bên thứ ba cũng có thể khiến một quốc gia thành kẻ thua cuộc bởi nguy cơ phán quyết của tòa án hay trọng tài hay tài phán quốc tế tùy thuộc vào phán xét của các thẩm phán từ nhiều nước khác nhau và có những nền tảng kiến thức về luật pháp khác nhau.

Do đó, khi lựa chọn phương thức này, cần chuẩn bị tình huống quyết định của cơ quan tài phán sẽ bất lợi hoàn toàn hay một phần nào đó và phương án đối phó.

Nếu chưa chuẩn bị sẵn sàng hay không muốn chấp nhận hậu quả thua cuộc thì không nên đưa ra giải quyết thông qua bên thứ ba.

Ngoài ra, theo kinh nghiệm của ông này, không thể quên cung cấp cho người dân nước mình những thông tin có liên quan để công chúng chuẩn bị tinh thần sẵn sàng nếu kết quả diễn ra không như ý muốn.

Ví dụ, trong vụ tranh chấp của Singapore với Malaysia về hòn đảo Pedra Branca, trước khi ICJ đưa ra phán quyết, đích thân ông Jayakumar và đồng sự của mình là Giáo sư Tommy Koh là những người được Chính phủ Singapore giao nhiệm vụ làm đại diện thương thuyết đã trả lời phỏng vấn giới truyền thông trong và ngoài nước và công khai liệt kê ra cho người dân Singapore biết tất cả những kịch bản có thể diễn ra, kể cả tình huống xấu nhất.

Ông Jayakumar nhìn nhận rằng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ rất khó giải quyết.

Dù lớn hay nhỏ, có tài nguyên hay người dân sinh sống hay không, các tranh chấp về lãnh thổ đều gây ra những phản ứng chính trị căng thẳng và xúc cảm mang tính dân tộc chủ nghĩa.

Những rào cản này khiến chính phủ các nước bị hạn chế trong việc đạt đến một dàn xếp hay thỏa hiệp thương thuyết cụ thể.

Họ sợ người dân sẽ kết tội họ là thỏa hiệp với nước ngoài hay thậm chí bán nước.

Nhưng chính trong bối cảnh đó mà phương thức giải quyết tranh chấp bằng bên thứ ba sẽ tạo thuận lợi giúp chính phủ các nước xử lý vấn đề một cách khách quan không bị những áp lực như đã nói ở trên.

Dù vậy, trên thực tế, việc áp dụng phương thức này không phải dễ dàng bởi nó đòi hỏi sự dũng cảm về chính trị và bản lĩnh lãnh đạo, thậm chí chấp nhận những chỉ trích trên chính trường và búa rìu dư luận.

Tính ra, tranh chấp đảo Pedra Branca đã kéo dài gần ba thập niên, kể từ năm 1979, khi Malaysia lần đầu tiên công bố tấm bản đồ cho rằng hòn đảo này thuộc lãnh thổ của mình, cho đến năm 2008 khi ICJ đưa ra phán quyết rằng Pedra Branca thuộc chủ quyền của Singapore.

Năm 1989, Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đề nghị với Thủ tướng Malaysia Mahathir rằng nếu tranh chấp không được giải quyết sau khi trao đổi các tài liệu thì hai nước chỉ còn cách nhờ đến phán quyết cuối cùng của ICJ.

Đến năm 1994, Thủ tướng Malaysia Mahathir mới chấp nhận đề nghị của Singapore là giải quyết tranh chấp qua quyền tài phán của bên thứ ba, tức là tòa án ICJ.

Những thông tin, sự kiện và kinh nghiệm giải quyết tranh chấp nói trên được ông Jayakumar chia sẻ trong quyển sách Kinh nghiệm ngoại giao Singapore (Diplomacy, a Singapore Experience) được xuất bản ngay sau khi ông về hưu vào năm 2011.

Theo đúc kết của ông, chính sách đối ngoại của Singapore có ba đặc trưng quan trọng:

Thứ nhất, các thỏa ước ký kết giữa các chính phủ phải được cam kết thực hiện theo như các điều khoản đưa ra.

Thứ hai, luật pháp quốc tế phải được tôn trọng.

Và thứ ba là nếu tranh chấp không được giải quyết bằng thương thuyết thì chỉ còn cách giải quyết theo quyền trọng tài hay tài phán quốc tế.

Ông nhấn mạnh:

Việc tuân thủ luật pháp quốc tế là một đặc trưng không thể tách rời trong khuôn khổ những nguyên tắc của Hiến chương Liên hiệp quốc về việc không dùng vũ lực, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, không can thiệp vào nội bộ của nước khác, bởi lẽ những quốc gia nhỏ bé sẽ không thể sống sót và phát triển thịnh vượng trong một thế giới mà sự tương tác giữa các quốc gia được chi phối bởi quyền lực tương đối chứ không phải bằng luật pháp”.

LÊ HỮU HUY (*)

(*) Giám đốc Công ty Tư vấn Vietnam Global Network, Singapore

Nguồn: TBKTSG