Đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế: hiện thực hay ảo tưởng?

“Đại học đẳng cấp quốc tế” không phải là một khái niệm mới nhưng nó thực sự chỉ trở nên phổ biến ra ngoài biên giới lĩnh vực giáo dục và khoa học từ đầu những năm 2000 trở lại đây. Nếu như trước đây, danh xưng này chỉ là một cuộc đua giữa một nhóm nhỏ các đại học hàng đầu đến từ các nước có truyền thống khoa học lâu đời như Anh, Mỹ, Đức, Nhật; ngày nay, cuộc cạnh tranh “đẳng cấp quốc tế” trở nên khốc liệt và phức tạp hơn nhiều và được nâng lên ở mức chính sách quốc gia với sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nước đang hoặc mới phát triển, đặc biệt từ Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Arap Saudi. Kể từ năm 2006, với việc ban hành Quyết định số 145/2006/QĐ-TTg về chủ trương và những định hướng lớn xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế, Việt Nam cũng chính thức tham gia vào cuộc đua nói trên. 

Đại học đẳng cấp quốc tế – một khái niệm mơ hồ

Năm 2004, khi chủ đề “đại học đẳng cấp quốc tế” bắt đầu nóng dần trên khắp thế giới, GS. Phillip Altbach từ ĐH Boston, Mỹ đã có một nhận định khiến công chúng choàng tỉnh “không ai biết đại học đẳng cấp quốc tế là gì, và cũng không ai biết làm sao để có được nó; nhưng ai cũng nhắc đến nó”. Vậy phải chăng, cả thế giới đang cuốn theo một cuộc chơi không có đích đến? Nhận định này hối thúc các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách xem xét và cắt nghĩa khái niệm này.

Mười năm sau công bố của Altbach, “đại học đẳng cấp quốc tế” không còn là khái niệm quá mơ hồ nữa. Trong nhiều nghiên cứu đã công bố về chủ đề này, nghiên cứu của chuyên gia giáo dục người Maroc, TS. Jamil Samil được cho là xúc tích và phổ quát hơn cả. Trong một báo cáo viết cho Ngân hàng thế giới, xuất bản năm 2009, Samil đã tổng kết 3 đặc điểm chung nhất để một đại học trở thành “đẳng cấp quốc tế”, cụ thể là:

(1) Tập trung nhân lực trình độ cao (bao gồm giảng viên, nghiên cứu viên; sinh viên đến từ khắp nơi trên thế giới);

(2) Nguồn lực dồi dào (bao gồm đầu tư của Nhà nước, nguồn hiến tặng từ cộng đồng, học phí từ sinh viên và kinh phí cho hoạt động nghiên cứu) và

(3) Cơ chế quản trị phù hợp (bao gồm chính sách hỗ trợ từ Nhà nước, quyền tự chủ và tự do học thuật, đội ngũ lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược và văn hoá học thuật xuất sắc).

Ba yếu tố này kết hợp và tương tác lẫn nhau để tạo nên 3 nhóm sản phẩm chính của một “đại học đẳng cấp quốc tế”, bao gồm:

(1) Sinh viên tốt nghiệp trình độ cao có kiến thức, kỹ năng có thể làm việc được ở lĩnh vực, khu vực trên khắp thế giới;

(2) Kết quả nghiên cứu đỉnh cao được thể hiện qua số lượng bài báo quốc tế, sách chuyên khảo, bằng phát minh, sáng chế; và

(3) Kết quả chuyển giao tri thức và công nghệ để giải quyết những vấn đề lớn hoặc đóng góp cho sự phát triển của nhân loại.

Hiep Pham

Hình 1: Ba yếu tố tạo nên đại học đẳng cấp quốc tế (tác giả chuyển ngữ từ mô hình gốc của Samil (2009))

Đại học đẳng cấp quốc tế và bảng xếp hạng đại học

Cùng với sự phát triển của các nghiên cứu về “đại học đẳng cấp quốc tế”, trong thập kỷ vừa qua, chúng ta cũng chứng kiến sự “lên ngôi” của các bảng xếp hạng đại học quốc tế, mà tiêu biểu nhất là 3 bảng xếp hạng của Đại học Giao Thông Thượng Hải (ARWU), của Phụ san Thời báo giáo dục đại học (THES) và của Tổ chức Quacquarelli Symonds (QS). Mặc dù sử dụng những phương pháp đo lường khác nhau, nhưng cả 3 bảng xếp hạng trên đều sử dụng những tiêu chí đánh giá gần giống với 3 đặc điểm của “đại học đẳng cấp quốc tế” mà Samil đã nêu ở trên. Do đó, cũng không ngạc nhiên khi hầu hết các đại học có truyền thống được cộng đồng thừa nhận là “đại học đẳng cấp quốc tế” như Havard, Standford, Oxford, Cambridge hay Tokyo đều nằm trong Top đầu của cả 3 bảng xếp hạng kể trên.

Vì vậy, một cách ngắn gọn người ta thường ngầm chỉ các “đại học đẳng cấp quốc tế” là các đại học nằm trong Top 10, 20, 50, 100, 200 hoặc “xông xênh” hơn là Top 500 trên các bảng xếp hạng đại học. Nói cách khác, cuộc cạnh tranh “đại học đẳng cấp quốc tế” trong những năm qua cũng chính là cuộc chiến nhằm chen chân vào trong Top đầu của các bảng xếp hạng đại học. Như đã đề cập ở trên, cuộc cạnh tranh này ngày càng có xu hướng “nóng dần” với sự tham gia quyết liệt của các đại học “chiếu dưới”, nhưng lại được hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Nhà nước.

Đến đây, có thể chúng ta sẽ đặt một câu hỏi: “các nước ít có truyền thống về học thuật hơn liệu có nhất thiết phải có đại học “đaị học đẳng cấp quốc tế”? Cái “danh xưng” ấy quan trọng đến vậy sao? Hay ngoài cái “danh xưng” để được “bằng anh, bằng em”, “đại học đẳng cấp quốc tế” còn đem lại những lợi ích gì khác cho quốc gia mà nó đặt sở tại? Nhìn lại sản phẩm thứ 3 của “đại học đẳng cấp quốc tế” của Samil sẽ giúp chúng ta tìm được lời giải đáp cho những câu hỏi hóc búa kể trên. Với việc đặt kết quả chuyển giao tri thức và công nghệ (sản phẩm 3) bên cạnh và quan trọng tương đương với 2 sản phẩm truyền thống của trường đại học là sinh viên tốt nghiệp và kết quả nghiên cứu (sản phầm 1,2), Samil đã đặt trường đại học từ vị trí của “tháp ngà”, trở thành một mắt xích quan trọng trong của nền kinh tế – xã hội – văn hoá nói chung. Thật vậy, trong nền kinh tế tri thức, đại học không còn là nơi đào tạo và nghiên cứu những gì họ muốn, mà còn phải đào tạo, nghiên cứu ra những theo những gì xã hội cần, và hơn thế, dự báo và giải  quyết những vấn đề xã hội chưa thấy.

Nói tóm lại, hơn là một “danh xưng hấp dẫn”, “đại học đẳng cấp quốc tế” chính là “tiền đề” quan trọng quyết định sự mạnh khoẻ của nền kinh tế, sự phồn thịnh của người dân cũng như phản ánh tầm ảnh hưởng của quốc gia mà đại học đó đặt trụ sở trên bình diện quốc tế. Không một quốc gia nào muốn tụt hậu phía sau. Vì vậy, cuộc cạnh tranh khốc liệt mà chúng ta đang được chứng kiến trên quy mô toàn cầu, có thể nói cũng là một hiện tượng dễ hiểu.

Ba nẻo đường dẫn tới “thành Rome”

Nếu coi “đại học đẳng cấp quốc tế” là “thành Rome”, thì theo TS. Jamil Samil, có ba “nẻo đường” cùng dẫn đến đích trên, đó là: (1) Nâng cấp từ một đại học sẵn có; (2) Sáp nhập một số đại học sẵn có; (3) Xây dựng mới hoàn toàn. Trong phần tiếp theo, chúng ta cùng nhau điểm qua một số trường hợp thành công theo ba chiến lược kể trên:

Nẻo đường thứ nhất: Nâng cấp từ một đại học có sẵn

Ưu điểm của chiến lược này là tiết kiệm chi phí nhưng nhược điểm của nó lại là không dễ để thay đổi thói quen, văn hoá của những con người cũ trong bối cảnh mới phải cạnh tranh vươn lên để đạt “đẳng cấp quốc tế”. Trường hợp Đại học Quốc gia Singapore tiêu biểu cho sự thành công của chính sách này; và ở chiều ngược lại là trường hợp của Đại học Malaya, Malaysia. Ngược dòng lịch sử trở lại những năm 1950, hai đại học này vốn có cùng chung xuất phát là 2 campus của cùng 1 đại học với tên gọi duy nhất Đại học Malaya (một ở Kualar Lampur và một ở Singapore ngày nay). Cùng với sự tách khỏi Nhà nước liên bang Malaysia để trở thành một quốc gia độc lập của Singapore vào năm 1965, campus của đại học Malaya tại Singapore cũng tách ra và phát triển thành Đại học Quốc gia Singapore. Sau cuộc “phân ly” này, mặc dù cùng được hai Chính phủ ưu tiên đầu tư để trở thành các đại học nghiên cứu hàng đầu, kết quả của Đại học Quốc gia Singapore rõ ràng rất khác biệt với những gì Đại học Malaya đã đạt được. Ngày nay, thế giới đều công nhận Đại học Quốc gia Singapore thực sự là một Đại học “đẳng cấp quốc tế” với nhiều năm liền lọt vào Top 40, thậm chí Top 30 của các bảng xếp hạng đại học; trong khi đó, thứ hạng cao nhất mà Đại học Malaya đạt được trong những năm qua mới chỉ dừng lại ở mức Top 200; thậm chí là đã ra khỏi Top 400 trong một vài năm trở lại đây ở bảng xếp hạng của THES. Nguyên nhân sâu xa của kết quả này được cho là xuất phát từ chính sách tuyển sinh trái ngược giữa Chính phủ Singapore và Malaysia. Trong khi Singapore chủ động mở rộng cánh cửa chào đón sinh viên quốc tế đến học tập và sau đó tiếp tục trao cơ hội để họ ở lại làm việc (năm 2009, tỷ lệ sinh viên ngoại quốc ở nước này ở trình độ đại học là 20%, ở trình độ sau đại học tương ứng là 43%), Malaysia, ở chiều ngược lại, với chính sách Bumiputera, ban hành từ những năm 1970, trong đó khống chế số lượng sinh viên không phải người gốc Mã Lai không vượt quá 45% tổng số sinh viên, vô hình chung lại đẩy rất nhiều sinh viên xuất sắc người Malaysia nhưng lại có gốc Ấn hoặc Hoa sang nước khác, qua đó dẫn đến hệ quả Malaysia bị chảy máu chất xám nặng nề trong nhiều năm. Chính sách này mặc dù sau đó đã được bãi bỏ hoàn toàn vào năm 2004, nhưng theo giới quan sát, dư âm của nó vẫn còn ảnh hưởng nặng nề tới đại học Malaya nói riêng cũng như nền giáo dục đại học của Malaysia nói chung.

Nẻo đường thứ hai: Sáp nhập một số đại học sẵn có

Trung Quốc, Đan Mạch, Anh Quốc, Nga, Pháp là những nước tiêu biểu áp dụng chiến lược này nhằm xây dựng “đại học đẳng cấp quốc” tế. Từ đầu những năm 2000, Trung Quốc bắt đầu tiến hành sáp nhập một loạt các đại học đơn ngành về Y Dược (vốn trước kia thuộc Bộ Y Tế) vào các đại học đa ngành như Đại học Bắc Kinh, Thượng Hải, Phú Đán. Một trường hợp khác đáng chú ý là Đại học Chiết Giang được thành lập trên cơ sở thành lập 4 đại học thuộc tỉnh Chiết Giang vào năm 1998 và nhanh chóng chen chân vào nhóm các đại học hàng đầu của Trung Quốc cũng như các bảng xếp hạng đại học trên thế giới (năm 2013, đại học này xếp hạng 151-200 tại bảng xếp hạng Đại học Giao thông Thượng Hải, ngang hàng với 2 Đại học hàng đầu của Bắc Kinh và Thanh Hoa). Một trường hợp thành công nổi bật khác là việc sáp nhập Đại học Victoria tại Manchester và Viện Khoa học Công nghệ Manchester (UMIST) vào năm 2004 để thành lập đại học Manchester (năm 2013 xếp hạng 41 tại bảng xếp hạng Đại học Giao thông Thượng Hải). Lợi thế lớn nhất của chiến lược sáp nhập là ngay lập tức có thể xây dựng được ngay một đại học đa ngành, nhưng khó khăn của nó lại là làm sao có thể gắn kết được toàn bộ đội ngũ giảng viên, các khoa, viện nghiên cứu vốn ở các đại học khác nhau trong một thực thể hữu cơ thống nhất. Thất bại của Chính phủ Pháp trong dự án PRES, khởi động từ năm 2006 nhằm sáp nhập các đại học, các trường lớn (grande ecoles) và các trung tâm nghiên cứu nhằm tạo nên những cơ sở giáo dục đại học có thứ hạng cao trên bảng xếp hạng quốc tế là minh chứng rõ nhất cho nhận định này.

Nẻo đường thứ ba: Xây dựng mới hoàn toàn

Đối với những hệ thống đang bị chịu ảnh hưởng nặng nề bởi quan liêu, ì trệ; xây dựng mới hoàn toàn một đại học nhắm đến mục tiêu “đẳng cấp quốc tế” là cách làm phù hợp, tuy vậy, cách làm này lại rất tốn kém, vì vậy, không phải nước nào cũng đủ nguồn lực để thực hiện chiến lược này. Những trường hợp tiêu biểu cho chiến lược này, có thể kể đến là Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang (POSTECH) và Đại học Khoa học và Công nghệ mang tên Vua Abdulla (KAUST) của Ả-rập Xê-út. Là một đại học tư, được tập đoàn thép POSCO thành lập năm 1986, POSTECH đã nhanh chóng vươn lên trở thành một đại học hàng đầu Hàn Quốc trong những năm 1990 và vươn xa hơn ở sân chơi thế giới kể từ những năm 2000 trở lại đây (theo bảng xếp hạng của THES 2012, POSTECH đứng thứ 50 thế giới, và thứ 1 của Hàn Quốc, vượt cả ĐHQG Seoul – thứ 57 thế giới). Điểm đáng chú ý của POSTECH là mặc dù có nguồn đầu tư dồi dào (kinh phí thường xuyên khoảng 2 tỷ USD/năm) nhưng POSTECH chỉ duy trì số lượng sinh viên ở mức nhỏ (khoảng hơn 3000, một nửa trình độ đại học và một nửa sau đại học); phần lớn kinh phí đầu tư được dồn vào mục tiêu nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các nghiên cứu ứng dụng liên ngành trực tiếp phục vụ cho nhu cầu của khu vực công nghiệp. KAUST của Ả rập Seut cho chúng ta một ví dụ thành công khác. Thành lập năm 2008 với vốn đầu tư ban đầu lên tới 10 tỷ USD, KAUST được hy vọng sẽ là quả “đấm thép” giúp giáo dục và khoa học của đất nước vốn nổi tiếng nhiều dầu mỏ hơn tri thức này có thể hội nhập với quốc tế. Cho đến năm 2013, tức là 6 năm sau ngày thành lập, lần đầu tiên KAUST đã chen chân vào được Top 500 đại học xuất sắc nhất trên bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải. Ngoài yếu tố dồi dào nguồn lực tài chính, theo các chuyên gia, có một số điểm đáng lưu ý quyết định thành công của KAUST: một là, sự tập trung cao độ vào một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn phục vụ trực tiếp cho sự nền công nghiệp của đất nước như Công nghệ hoá học, Khoa học Môi trường, Khoa học hàng hải…; hai là, chỉ tuyển sinh ở trình độ sau đại học nhằm mục tiêu gắn liền đào tạo với nghiên cứu khoa học với số lượng sinh viên hạn chế (1000-2000 sinh viên, tất cả đều nhận học bổng toàn phần); ba là, sử dụng hiệu trưởng nguyên là những nhà lãnh đạo đại học đẳng cấp quốc tế: TS. Choon Fong Shih, nguyên hiệu trưởng Đại học Quốc gia Singapore (2008-2013) và TS. Jean-Lou Chameau, nguyên hiệu trưởng Viện Công nghệ California (2013 – nay), qua đó, tận dụng uy tín và kinh nghiệm của họ trong việc xây dựng và phát triển KAUST; bốn là, KAUST được xếp ngoài hệ thống giáo dục dưới sự quản lý của Bộ Giáo dục và hưởng quyền tự chủ và tự do học thuật hoàn toàn. 

Giấc mơ đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế

Vào cuối thế ký XIX, khi được tỷ phú Rockefeller hỏi sẽ phải mất bao nhiêu tiền để xây dựng thành công một đại học “đẳng cấp quốc tế”, GS. Charles Eliot, người sau này trở thành hiệu trưởng đại học Harvard đã trả lời cần phải mất 50 triệu USD và 200 năm. Những gì diễn ra sau đó đã chứng minh nhận định của GS. Eliot là sai lầm. Đại học Chicago chỉ cần mất khoảng 20 năm đầu thế kỷ XX và khoảng 100 triệu USD để trở thành đại học đẳng cấp quốc tế. Với số tiền đầu tư lớn hơn nhiều và cơ chế quản trị phù hợp, POSTECH chỉ mất hơn 10 năm để chen chân vào Top 100 đại học hàng đầu, còn KAUST mất đúng 5 năm để lọt vào Top 500.

Chính thức gia nhập cuộc đua

Năm 2006, với việc ban hành Quyết định 145/2006/QĐ-TTg, Việt Nam cũng chính thức tham gia cuộc đua “đại học đẳng cấp quốc tế”. Đến năm 2007, cùng với việc ban hành Quy hoạch mạng lưới đại học và cao đẳng giai đoạn 2006-2020 (Quyết định 121/2007/QĐ-TTg), Việt Nam cụ thể hoá tham vọng nói trên bằng việc xác định mục tiêu đến năm 2020, sẽ có một trường đại học lọt vào Top 200 đại học hàng đầu thế giới. Mục tiêu này cũng được nhắc lại nhiều lần trong các văn bản pháp quy của Việt Nam sau đó, điều này chứng tỏ quyết tâm rất cao của Đảng và Nhà nước ta.Và có vẻ như chúng ta đang áp dụng cả 3 chiến lược xây dựng đại học đẳng cấp quốc tếmà TS. Samil đã tổng kết để đạt được mục tiêu nói trên: (1) xây dựng mới hoàn toàn với sự hỗ trợ của đối tác từ Đức và Pháp (Đại học Việt Đức và Đại học Khoa học Công nghệ và Hà Nội), 2 dự án khác với đối tác Nhật Bản và Anh Quốc cũng được bàn thảo; (2) nâng cấp Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn thành Đại học Khoa học và Công nghệ Việt Nga (dự kiến chính thức ra mắt năm 2016); (3) sáp nhập một số đại học sẵn có: 2 Đại học Quốc gia và 3 Đại học vùng được thành lập từ những năm 1990 (Đại học Quốc gia Hà Nội mới đây cũng công bố mục tiêu đến năm 2020 sẽ lọt vào Top 100 đại học hang đầu Châu Á, tương đương Top 500 thế giới, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang có những mục tiêu tương tự).

Còn xa mới đến đích

Vậy, đại học nào trong số những đại học kể trên có thể giúp chúng ta hiện thực hoá giấc mơ Top 200 thế giới khi mà thời hạn 2020 đang đến rất gần. Căn cứ những đặc điểm của đại học “đẳng cấp quốc tế” mà TS. Samil đã tổng kết, có thể thấy, khoảng cách từ những gì chúng ta đang có cho đến đích còn khá xa. Về tiêu chí tập trung nhân lực trình độ cao, những tổng kết gần đây cho thấy đại học Việt Đức và Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội đang gặp rất nhiều khó khăn trong tuyển sinh trong khi đội ngũ giảng viên vẫn đang bị lệ thuộc quá nhiều về phía đối tác nước ngoài; 2 Đại học Quốc gia tuyển được nhiều sinh viên giỏi hơn ở trình độ đại học nhưng rất ít trong số này tiếp tục ở lại trong nước để theo học ở bậc sau đại học; đội ngũ giảng viên nội địa ở 2 Đại học Quốc gia mặc dù thuộc hàng mạnh nhất cả nước nhưng kết quả công bố quốc tế hiện nay cũng mới chỉ ở mức khiêm tốn, chỉ tương đương với năng suất của một khoa của đại học thuộc Top 500 trên thế giới. Về tiêu chí nguồn lực, Đại học Việt Đức và Đại học Khoa học và Công nghệ dù được đầu tư lên tới gần 200 triệu USD cho mỗi trường, con số vẫn quá khiêm tốn nếu so với 3 tỷ hay 10 tỷ của POSTECH và KAUST; nếu tính đầu tư trên đầu sinh viên, ngay cả đối với chương trình tiên tiến, chất lượng cao đang thực hiện ở 2 Đại học Quốc gia và một số đại học khác trong cả nước, thì con số ước tính mới chỉ khoảng trên 3000 USD/sinh viên/năm, thua xa mức trung bình ở hầu hết đại “đẳng cấp quốc tế” (khoảng 20.000-30.000 USD/sinh viên/năm). Về tiêu chí cơ chế quản trị, tự chủ đại học từ nhiều năm nay vẫn là vấn đề bức xúc của tất cả các trường đại học trên cả nước, kể cả 2 Đại học Quốc gia, là những đơn vị, theo quy định được giao nhiều quyền tự chủ nhất.

Nói tóm lại, xét trên mọi phương diện, dù là những người lạc quan nhất cũng không dám tin Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu có đại học lọt vào Top 200 thế giới vào năm 2020. 

Thay cho lời kết – Sự cần thiết xem xét lại kế hoạch

Thật vậy, “đại học đẳng cấp quốc tế” không phải là một “kỳ thi đạt chuẩn” như kiểu kiểm định chất lượng mà cứ đại học nào đạt các tiêu chuẩn theo yêu cầu thì sẽ được nhận danh xưng này; “đại học đẳng cấp quốc tế” cũng không giống kỳ thi PISA hay Olympic quốc tế mà có thể ôn luyện để đạt thứ hạng cao, “đại học đẳng cấp quốc tế” là một cuộc marathon tiếp sức đường dài, một “cuộc chơi có tổng không đổi” (zero-sum game) mà bất kỳ đại học nào muốn chen chân vào Top đầu, tức là sẽ có một đại học khác bị “bật bãi” để nhường chỗ. Nói cách khác, nếu Việt Nam muốn có “đại học đẳng cấp quốc tế”, chúng ta phải đầu tư mạnh hơn, thu hút được nhiều nhân lực trình độ cao hơn và có bộ máy quản trị hiệu quả hơn chính những đại học đang nằm trong các Top 100, 200 hay 500 tại các bảng xếp hạng trên thế giới hiện nay. Vậy thì phải chăng giấc mơ “đẳng cấp quốc tế” là quá xa vời? Hay chúng ta có nên chấp nhận thua cuộc và dừng cuộc chơi?

GS. Simon Marginson từ Viện Giáo dục, Anh Quốc có lẽ là một trong những chuyên gia quốc tế đầu tiên cho Việt Nam một lời khuyên hữu ích nhất để trả lời những câu hỏi kể trên. Trong một bài phỏng vấn nhân dịp tham dự một hội thảo về xếp hạng đại học tổ chức tại Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2008, GS. Simon Marginson, lúc đó còn đang công tác tại Đại học Melbourne, Australia đã từng nhận định, có một “đại học đẳng cấp quốc tế” vào năm 2060 hoặc muộn hơn có lẽ là mục tiêu khả thi hơn đối với thực tế ở Việt Nam.

Tóm lại, như đã nhắc đến ở phần đầu trong bài này, hơn là một danh xưng, việc xây dựng thành công “đại học đẳng cấp quốc tế” đóng vai trò đầu tầu cho cả hệ thống giáo dục đại học và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác ở Việt Nam nói riêng cũng như ở các nước đang phát triển nói chung là yêu cầu sống còn để có thể bắt kịp với các nước phát triển trong nền kinh tế tri thức. Tuy vậy, ở thời điểm chỉ còn 6 năm nữa là đến kỳ hạn 2020, có lẽ đã đến lúc các nhà quản lý giáo dục ở nước ta thẳng thắn và tỉnh táo xem xét lại các kế hoạch đã đặt ra cũng như các định hướng, chỉ tiêu trong tương lai, trong đó kể cả việc xem xét lùi lại mục tiêu 2020 hoặc nới lỏng mục tiêu Top 200.

Trước Việt Nam, rất nhiều nước khác cũng đã từng thất bại với các chương trình tương tự. Ví dụ như tại Hàn Quốc, sau khi thất bại với chương trình BK21 trong những năm 1990, nước này đã có những điều chỉnh nhất định và qua đó, thu được nhiều kết quả khả quan hơn với chương trình WCU từ đầu những năm 2000. Sẽ không có gì đáng xấu hổ nếu chúng ta thất bại với những nỗ lực đầu tiên trong việc xây dựng “đại học đẳng cấp quốc tế”; thậm chí, ở một chừng mực nào đó, thất bại ở cuộc đua này lại chính là thành công ở một cuộc đua khác, lớn hơn.

Theo Phạm Hiệp / Học Thế Nào

Nghiên cứu sinh, Khoa quản trị kinh doanh, Đại học Văn hoá Trung Hoa, Đài Loan

Chuyên viên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Bài gốc có thể xem tại đây.

Chuyện những ‘mạnh thường quân’ trời Tây

Các trường tư ở Mỹ phát triển mạnh mẽ được cho tới nay là nhờ một chính sách thuế khóa rất chiến lược của nước này.

Lần đầu tiên tại Việt Nam sẽ có một trường ĐH phi lợi nhuận theo mô hình Hoa Kỳ – Trường ĐH Fulbright Việt Nam (FUV). Mô hình này khác gì so với hệ thống các trường ĐH tư thục hiện có tại Việt Nam? Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của GS Vũ Đức Vượng như góc nhìn tham chiếu.

Mãi đến năm 1993 Thủ tướng CP mới ban hành qui chế đầu tiên về ĐH tư thục.  Qua hai quy chế tạm thời vào năm 1994, quy chế chính thức về ĐH tư chỉ ra đời năm 2000, nhìn nhận “sở hữu tập thể” và một số yếu tố phi lợi nhuận như phải có quỹ dự trữ bắt buộc, phải đầu tư vào cơ sở vật chất; nhưng vẫn cho trả lãi, hoàn trả vốn góp, v.v…

Luật GD năm 2005 và sau đó Nghị định số 75/2006 chính thức coi trường tư là một doanh nghiệp theo mẫu vì lợi nhuận: Các nhà đầu tư sở hữu toàn bộ tài sản của trường; cổ tức phân chia theo tỷ lệ vốn góp; cổ đông có quyền chuyển nhượng hay rút vốn, v.v…

Năm 2012 QH mới thông qua Luật GD ĐH và lần đầu tiên phân biệt “vì lợi nhuận” và “phi lợi nhuận”, mặc dù lằn ranh còn rất mông lung, và cả hai vẫn còn dựa vào mẫu của các doanh nghiệp hoạt động kinh tế vì lợi nhuận.  (Luật GDĐH do Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực từ 1/1/2013.)

Vậy thế nào mới là “phi lợi nhuận”?

đại học, phi lợi nhuận, Vũ Đức Vượng, mạnh thường quân, hội đồng quản trị

Ảnh minh hoạ

Chế độ “phi lợi nhuận” ở Mỹ

Khác với VN, các ĐH tư ở Mỹ hình thành trước các trường công; thậm chí từ trước khi lập quốc.  ĐH Harvard thành lập năm 1636, hay 140 năm trước khi các nhà cách mạng tuyên ngôn độc lập với vương quốc Anh.  Các trường tiên phong này thường được lập ra để dạy thần học, đào tạo lớp giáo sĩ và một số giáo viên.

Đến những thế kỷ sau, do những phát minh khoa học và các thị trường mới, họ mới phát triển sang những lãnh vực nghiên cứu khoa học, nhân văn, kinh tế và xã hội.  Ngày nay, các trường ĐH tư của Mỹ chiếm khá nhiều giải Nobel về các ngành, như ta đã thấy.

Các trường công ở Mỹ được chính quyền tiểu bang trợ cấp ngân khoản hoạt động, với mục đích đào tạo ưu tiên cho công dân trong bang, do đó học phí thường có 03 hạng:  Thấp nhất dành cho sinh viên của bang; cao hơn là sinh viên Mỹ từ các bang khác. Cao nhất là sinh viên ngoại quốc.  Chính phủ liên bang cũng trợ cấp gián tiếp bằng hai cách chính: Học bổng hoặc vay nhẹ lãi cho sinh viên nghèo, và hỗ trợ nghiên cứu với các khoản tiền từ liên bang.

Vì ngân sách của mỗi bang trồi sụt theo kinh tế thị trường, nên hỗ trợ của chính quyền bang cũng giảm khá nhiều trong những thập niên qua.  Ngân sách của ĐH California ở Berkeley, chẳng hạn, trước đây 25 năm được tiểu bang tài trợ tới gần nửa (49%) đến năm 2008 chỉ còn 27%.  Ở ĐH Texas còn xuống hơn nữa, từ 39% còn 14%, v.v…

Các trường tư ở Mỹ tồn tại bằng phương thức khác: Vì không có tài trợ trực tiếp từ chính quyền, các trường này tính học phí cao hơn trường công, và đồng thời phát triển mạnh hơn các nguồn hiến tặng của cựu sinh viên, của các quỹ hỗ trợ, của các đại gia, các nhà hảo tâm và của chính người dân có cảm tình với nhà trường.

Phải nói ngay là các trường tư ở Mỹ phát triển mạnh mẽ được cho tới nay là nhờ một chính sách thuế khóa rất chiến lược của nước này: Khuyến khích những người khá giả hiến tặng cho các công trình nhân đạo, phi lợi nhuận, trong đó có các trường… bằng cách giảm hay miễn thuế trên thu nhập hay trên lợi nhuận của họ.  Một công đôi việc: Thay vì trả thuế cao cho CP, họ được quyền chọn lựa đổ tiền vào cơ sở hay dự án họ thích, và còn được tôn vinh mãi mãi.

Nhưng  gia đình những “Mạnh thường quân” đó có làm chủ, hay dính líu gì đến các ĐH này không?  Hoàn toàn không.

Ai là “chủ” các ĐH này?

Không có ai, và mọi người trong cộng đồng.  Nghe hơi “nghịch nhĩ”,  nhưng rất lô-gic.

Một điều khoản rất quan trọng trong bộ luật thuế của Mỹ là điều 501(c)(3): Miễn thuế thu nhập cho các công ty “phi lợi nhuận” hay còn gọi là “bất vụ lợi” (not-for-profit corporations.)

Một vài điều cần giải thích ở đây:  Tư cách “công ty” (corporation) được luật pháp công nhận có quyền giao dịch và tham gia vào các lĩnh vực trong xã hội, như một “người” (tư cách pháp nhân) và các cá nhân đứng sau đó không bị liên lụy trực tiếp về tài chính.  Nói cách khác, “công ty” là một tấm bình phong để cá nhân đứng sau đó không mang trách nhiệm trực tiếp với các sinh hoạt của công ty.

Do đó, mọi cá nhân hay tổ chức muốn có tư cách pháp nhân để hoạt động trong xã hội phải đăng ký như một công ty, để tránh trách nhiệm cá nhân. Công ty có thể là “vì lợi nhuận” hay “phi lợi nhuận”

Công ty “phi lợi nhuận” có mọi quyền và trách nhiệm về kinh tế như những công ty “vì lợi nhuận”: Lập khế ước, giao kèo, buôn bán sản phẩm hay dịch vụ, thuê hay sa thải lao động, tuân thủ luật lao động, đóng bảo hiểm cho công ty và cho nhân viên, trả vào quỹ an sinh xã hội, v.v… cũng như có quyền sinh lãi (tiền lời) qua các hoạt động kinh doanh của mình.

Nhưng công ty “phi lợi nhuận” không có cổ đông như một công ty thường. Tài sản của công ty phi lợi nhuận thuộc về chính công ty đó (có thể là một nhà chùa, tu viện, trường học, bệnh viện, nhà dưỡng lão, viện cô nhi, hay một dịch vụ nào đó …) chứ không thuộc về cá nhân hay nhóm nào.  Điều hành một công ty phi lợi nhuận như vậy là một Hội đồng quản trị do thành viên chỉ định hay bầu lên từng nhiệm kỳ, với trách nhiệm chính là trung thành và quản lý công ty cho hiệu quả.

Vì thế, khi công ty phi lợi nhuận bị thua lỗ, HĐQT có trách nhiệm phải tìm thêm tài nguyên hay bớt sinh hoạt cho cân bằng ngân sách.  Ngược lại, khi công ty phi lợi nhuận có lời, số tiền lời này chỉ được dùng để phát huy công ty này mà thôi; không một cá nhân hay nhóm nào khác được sử dụng số lời này.

Các ĐH phi lợi nhuận ở Mỹ cũng là những công ty phi lợi nhuận, và hoạt động theo mô hình này.  Khi họ được CP thừa nhận là phi lợi nhuận, không những chính nhà trường được miễn thuế trong các dịch vụ liên quan đến GD mà các nhà hảo tâm hiến tặng cho nhà trường cũng được miễn thuế trên khoản hiến tặng.

Thường thường, các trường phi lợi nhuận sử dụng những khoản tiền hay hiện vật hiến tặng một cách rất cẩn thận:  Họ đầu tư số tiền này và hàng năm chỉ dùng tiền lời của những đầu tư này vào việc GD.  Như vậy, số tiền hiến tặng sẽ còn mãi mãi để giúp các thế hệ đi sau.  Từ chính xác của tiếng Anh là “Endowment”, không những là “hiến tặng” mà còn để dành vốn, chỉ dùng tiền lời, vào việc GD hay từ thiện.

Từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, các ĐH lớn của Mỹ đã tích lũy những quỹ endowment ngoạn mục: Quỹ của ĐH Harvard, chẳng hạn, đã lên đến hơn 35 tỷ USD cách đây vài năm.  Và khi nào mà các cựu sinh viên hay những người hảo tâm còn muốn hiến tặng cho Harvard thì quỹ này sẽ còn tăng thêm nữa.

Tóm lại, đó là phương thức nước Mỹ đã tạo nên và phát huy một nền GD cả công lẫn tư vững vàng, hiệu quả – tuy không phải là hoàn hảo – như chúng ta chứng kiến.  Phải có chiến lược lâu dài, phải có thời gian rộng rãi, phải có chính sách khôn ngoan, và phải có những đại gia, những cựu sinh viên, những nhà hảo tâm, với tinh thần cộng đồng cao, tầm nhìn xa.

Theo Vũ Đức Vượng / Tuần Việt Nam

Bài gốc có thể xem tại đây.

10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Âu trong năm 2014

Đảo Santorini, Hy Lạp. (Nguồn: Yahoo.com)


Các biên tập viên của nhà xuất bản sách hướng dẫn du lịch lớn nhất thế giới Lonely Planet đã tiên đoán rằng Hy Lạp sẽ là điểm đến châu Âu được ưa chuộng nhất trong năm nay, do đất nước này đã có những dấu hiệu hồi phục rõ rệt sau những năm đầy biến động với bất ổn chính trị và những cuộc biểu tình chống chính sách “thắt lưng buộc bụng”.

Những nơi nằm trong danh sách “10 điểm đến du lịch tốt nhất châu Âu” đều là những vùng có nhiều giá trị du lịch nhưng lại ít được chú ý tới, hoặc đang thu hút nhiều sự chú ý, hoặc lâu nay đã là những điểm đến ưa thích của nhiều khách du lịch bởi nhiều lý do khác nhau trong năm 2014.

Năm ngoái, Hy Lạp đã ghi nhận con số 20 triệu lượt khách du lịch, và các nhà chức trách dự đoán rằng 2014 sẽ tiếp tục là một năm khởi sắc về du lịch của Hy Lạp – đây là một tin tức tốt lành cho những cư dân vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng chậm chạp.

Giờ đây, với tình hình chính trị và kinh tế đã ổn định trở lại, Hy Lạp đã được bình chọn là điểm đến tốt nhất dành cho những vị khách đang tìm kiếm một kỳ nghỉ dưới ánh nắng mặt trời./.

Danh sách 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Âu 
1. Hy Lạp
2. Ljubljana, Slovenia
3. Miền Tây Nam nước Anh
4. Italy
5. Viking, Đan Mạch
6. Seville, Tây Ban Nha
7. Outer Hebrides, Scotland
8. Plzen, Cộng hòa Séc
9. Stavanger, Na Uy
10. Toulouse, Pháp

Theo Mi Nguyễn / Vietnamplus

Bài gốc có thể xem tại đây.

Quốc ca và lòng tự hào dân tộc

Tiến sĩ Aung Kyaw Myint, một người bạn ở Yangon, từng kể cho tôi nghe một câu chuyện rất đặc biệt về những người Myanmar hát quốc ca.

Đó là quãng năm 2011, khi đất nước này cũng nổ ra những cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Chính phủ Myanmar khi đó phê duyệt cho người Trung Quốc xây một con đập thủy điện khổng lồ trên thượng nguồn đất nước. Người dân không đồng tình và xuống đường biểu tình. Dự án này sau đó đã bị hoãn vô thời hạn.

Trong làn sóng phản đối ấy, một vài nhà buôn Trung Quốc hành hung công nhân bản địa tại thành phố Mandalay. Thế là người dân bao vây công ty Trung Quốc. Nhưng họ không hành hung ai. Họ đứng đó, vây lấy công ty Trung Quốc và đồng thanh hát quốc ca Myanmar.

Câu chuyện ấy ý nghĩa đến mức người ta có quyền nghi ngờ nó là “tiểu thuyết”. Nhưng tôi tin người bạn mình, một học giả khả kính và tên tuổi ở Myanmar. Tôi cũng tin những người dân thật thà của đất nước sùng đạo ấy.

Câu chuyện ý nghĩa bởi vì nó nói rằng, động lực cho sự phát triển không phải là anh thù ghét ai đến đâu, mà anh trân trọng bản thân mình đến mức nào. Cái hình ảnh những người Myanmar, trong cơn giận dữ, vẫn đứng quanh công ty Trung Quốc và đồng thanh hát quốc ca là một biểu hiện tuyệt vời của lòng tự trọng.

Những người yêu thể thao hẳn vẫn chưa thể nào quên cái tên Jong Tae-se. Hình ảnh ấn tượng nhất tại World Cup 2010, chắc chắn là khi tiền đạo của đội tuyển CHDCND Triều Tiên khóc nức nở khi hát quốc ca nước mình.

Jong Tae-se sinh ra tại Nhật Bản. Nơi đó, dù nói gì cũng hơn quê hương anh nhiều mặt về mức sống. Nhưng bản thân cái việc chọn về chơi cho đội tuyển CHDCND Triều Tiên đã là biểu hiện của tinh thần dân tộc. Đến khi Jong Tae-se khóc thì người ta nhận ra một tình yêu vô điều kiện với quê hương.

Khi những giọt nước mắt lăn dài trên má Jong Tae-se là lúc mà những vấn đề chính trị, những hệ tư tưởng và những mâu thuẫn trở nên nhỏ bé, chỉ còn thấy một tình yêu thuần túy.

Jong Tae-se có phải đã khóc vì những giai điệu? Những người Myanmar có phải muốn nhắn gì các thương nhân Trung Quốc qua các ca từ? Có lẽ là không. Ca từ và giai điệu có thể không tác động trực tiếp đến tinh thần con người. Nhưng như mọi thứ mang tính biểu tượng khác, “quốc ca” và “hát quốc ca” vượt lên trên việc trình diễn một ca khúc – nó chỉ là động tác để khơi gợi ra cảm xúc thẳm sâu trong mỗi con người.

Và bây giờ là lúc tự hỏi, đã bao lâu rồi kể từ thời tốt nghiệp phổ thông chúng ta không thực hiện cử chỉ đẹp đẽ ấy?

Hôm trước trên Facebook nhiều người chia sẻ câu chuyện về một doanh nghiệp ở TP HCM tổ chức cho nhân viên hát quốc ca cứ mỗi sáng thứ hai hàng tuần. Người chia sẻ nói rằng khi xem những tin tức về biển Đông, anh quyết phải làm một điều gì đó thật ý nghĩa. Và ý tưởng tổ chức cho nhân viên hát quốc ca nảy ra. Chuyện nghe thật lạ. Lạ bởi vì có quá ít người, doanh nghiệp và tổ chức còn giữ được ý thức về cái hành động đơn giản mà ý nghĩa ấy.

Ngay cả khi Quốc hội khai mạc cũng dễ dàng nhìn thấy nhiều đại biểu nhân dân không hát, hoặc chỉ mấp máy môi khi chào cờ.

Rất nhiều người đã không hát lại Tiến quân ca thêm một lần kể từ sau những buổi chào cờ thời phổ thông.

Tình yêu đất nước và lòng tự tôn dân tộc, đó đúng là những thứ tồn tại vĩnh hằng trong mỗi người. Nhưng đôi khi, chúng ta cần nhắc nhớ nhau về điều đó.

Không biết tôi có mộng mơ không khi nghĩ về một buổi sáng thứ hai, đi xe trên mọi con phố Hà Nội, Sài Gòn và khắp miền đất nước, bỗng nghe tiếng hát đồng thanh bài Tiến quân ca vang lên từ khắp các cơ quan công sở, khắp các nóc nhà. Hàng triệu giọng hát cùng cất lên trầm hùng, và một ý thức về “Đoàn quân Việt Nam đi” khi ấy thật rõ ràng làm sao.

Sáng thứ hai ấy, ở Paris, Warsaw, Praha, Moscow,… tiếng hát đồng thanh cũng cất lên từ một góc phố nào, những người khách lạ phương Tây sẽ dừng lại lắng nghe và có thể nhận ra hai chữ “Việt Nam” mà họ biết.

Nếu có một ngày như thế, tôi tin rằng rất nhiều người cũng sẽ dừng xe lại trên đường đứng đưa tay lên ngực và cùng hát.

Nếu có một ngày như thế, tôi tin rằng sẽ chúng ta sẽ không cần nhắc nhau về tình yêu đất nước, về quyết tâm bảo vệ chủ quyền.

Nếu có những ngày như thế, tôi tin rằng bất cứ kẻ thù nào cũng phải e dè về sự đồng lòng của một dân tộc tự tôn.

Theo Đức Hoàng / Vnexpress

Bài gốc có thể xem tại đây.

5 bước chuẩn bị “săn” học bổng du học của chính phủ

Thầy đã và đang nhận rất nhiều câu hỏi của các bạn từ khắp nơi trên cả nước hỏi thầy câu này. Nhận được học bổng toàn phần để du học là ước mơ và hoài bảo của mọi người. Vinh dự nhận được 2 học bổng toàn phần của chính phủ: ADS của Chính phủ Úc và Fulbright của Chính phủ Hoa Kỳ, thầy muốn chia sẽ những trải nghiệm cùng với kinh nghiệm của mình với các bạn để các bạn có thể biến giấc mơ thành hiện thực giống như thầy. Thầy chia sẽ với các bạn quá trình chuẩn bị để có thể apply vào 2 chương trình học bổng cụ thể là ADS và Fulbright một cách hiệu quả nhất. Lưu ý đây là 1 quá trình gian khó và lâu dài.

Bước 1: Tham khảo danh sách các ngành học được cấp học bổng

Việc trước tiên là các bạn phải tham khảo xem ngành học và nghề của mình đang làm có trong danh sách các ngành học được cấp học bổng hay không. Các bạn có thể xem các danh sách các ngành nghề trên Timeline của thầy. Nếu không có thì các bạn có thể phải tìm học bổng của các trường, việc này đòi hỏi các bạn phải tự thân vận động bằng cách search trên Internet hay vào các website của các trường.

Bước 2: Đạt điểm GPA tối thiểu 7,0

Đối với các bạn sinh viên, nếu có ước mơ nhận học bổng toàn phần, thì hãy phấn đấu học thật tốt để đạt GPA tối thiểu là 7,0 mới đủ điều kiện apply. Tuy nhiên, thầy lưu ý rằng các bạn phải hiểu là GPA chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ để có thể nhận học bổng. Chính vì vậy mà các chương trình học bổng của chính phủ khuyến khích nhiều người tham gia bằng việc qui định GPA chỉ cần từ 7,0 trở lên là đủ điều kiện để apply. Còn để thật sự nhận được học bổng là 1 quá trình phấn đấu lâu dài và gian khó, chứ không phải đơn giản có GPA “đẹp” là được!

Bước 3: Đạt điểm IELTS tối thiểu 6.5 hay TOEFL iBT 79

Chuẩn tiếng Anh như trên là yêu cầu bắt buộc đối với học bổng ADS và Fulbright. Tất cả các vòng tuyển chọn đều đánh giá khả năng tiếng Anh của ứng viên. Do đó, các bạn phải đầu tư tiếng Anh 1 cách thật sự nghiêm túc để có thể đạt được chuẩn mà chương trình đề ra. Cho dù các bạn giỏi đến thế nào đi nữa nhưng kém tiếng Anh, các bạn vẫn không thể có cơ hội. Nếu ai có nhu cầu trau dồi tiếng Anh, đặc biệt là IELTS, thì có thể liên hệ với thầy, thầy sẽ giúp các bạn bằng cách đến học với thầy.

Bước 4: Phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm làm việc

Rất nhiều các bạn “nôn nóng” muốn kiếm học bổng ngay sau khi tốt nghiệp đại học, điều này là không thể đối với 2 chương trình học bổng này. Các chương trình học bổng đều yêu cầu như vậy, đồng thời các bạn chỉ được phép apply đúng ngành nghề mình đang công tác, lưu ý họ không cho apply trái ngành. Nếu nhận được học bổng, các bạn phải được sự chấp thuận cử đi học của cơ quan chủ quản. Nếu không, các bạn sẽ không được nhận học bổng.

Đối với các bạn đã và đang đi làm thì lưu ý, các chương trình học bổng chính phủ có khuynh hướng cấp học bổng cho khối cơ quan Nhà nước, đây là chính sách ưu tiên của họ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các bạn làm việc ngoài khối đó là không có cơ hội, các bạn có thể liên hệ trực tiếp xem mình có thể apply được không. Thầy có bạn bè ngoài khối Nhà nước vẫn có thể nhận được học bổng.

Bước 5: Hãy kiếm người viết thư giới thiệu

Đây là 1 việc rất khó đối với hầu hết các ứng viên khi apply học bổng. Do đó, các bạn phải bắt đầu tìm kiếm, làm quen, và xây dựng mối quan hệ thật tốt với những ai đó mà các bạn biết trong quá trình học và làm việc, để rồi cuối cùng họ bằng lòng giúp mình bằng cách viết thư giới thiệu. Dĩ nhiên, những người phải có học vị và chức vụ cao thì là thư của họ mới có trọng lượng. Không có công thức chung cho việc này, mỗi người có thế mạnh khác nhau trong việc tìm kiếm. Thậm chí, việc này có thể là chìa khóa giúp bạn mở cách cửa “ước mơ” của mình.

Đấy là 5 việc các bạn phải bắt tay ngay để làm từ bây giờ để khi có cơ hội là đủ điều kiện để apply. Các bạn có thể tham khảo thêm thông tin trên Timeline của thầy.

Thầy Vĩnh Huy

Bài gốc có thể xem trên SĂN HỌC BỔNG DU HỌC Club.

Gây quỹ cho sự kiện Vòng tay nước Mỹ 2- tháng 8.2014

Ban tổ chức chương trình Vòng tay nước Mỹ 2- Đông Tây hội ngộ tại Cali tháng 8.2014 đang triển khai chiến dịch gây quỹ nhằm tổ chức sự kiện này chu đáo, thành công hơn. Mục tiêu của chiến dịch gây quỹ là con số 3000 USD trong vòng 2 tháng tới.

Hội Thanh niên – Sinh Viên Việt Nam Tại Hoa Kỳ
BTC sự kiện “Vòng tay nước Mỹ 2 – Đông Tây Hội Ngộ Cali 2014”

California, ngày 10 tháng 06 năm 2014

THƯ MỜI TÀI TRỢ

Kính gửi: Các cá nhân và tập thể quan tâm.

Hi Thanh Niên – Sinh Viên Vit Nam ti Hoa Kchính thc đi vào hot động ngày 01 tháng 06 năm 2013 đã và đang phát trin ln mnh, là si dây kết ni sc mnh cng đồng thanh niên sinh viên Vit Nam ti Hoa K.

Nhm tiếp tc thúc đẩy sgn kết trong cng đồng thanh niên, du hc sinh ti Mđánh

du mt năm thành lp, Hi Thanh niên – Sinh viên Vit Nam ti Hoa Ktchc skin

thường niên có quy mô ln nht trong năm mang tên ”Vòng tay nước M2 – Đông Tây Hi

ngCali 2014” ti thành phSan Francisco vào các ngày 8, 9 và 10 tháng 8 năm 2014. Ni

dung chính ca chương trình được tham kho ti đây:

Để điu kin chun btt hơn cho công tác tchc, Ban tchc skin kính mi các cá

nhân và tchc quan tâm đóng góp tài trcho vic tchc và các gii thưởng cho cuc thi

“Hành trình nước M” và “Duyên dáng Vit Nam” trong khuôn khchương trình ca s

kin. Nhng cá nhân, tchc đóng góp trên 100 USD sẽ được nhn mt món quà lưu nim

kèm theo giy chng nhn đóng góp tHi sinh viên.

Các khon đóng góp có thể được thc hin qua mt trong hai cách:

Chuyn trc tiếp qua tài khon ca Hi Sinh Viên:

Tên tài khon: Association of Vietnamese Students and Professionals in the

United States, INC.

Ngân hàng: Citibank, N.A. Porter Square, 1815 Massachusetts Ave. Suite

118, Cambridge, MA 02140

Stài khon: 1255560426

Swift code: CITIUS33

Đóng góp qua Indiegogo theo đường link sau:

Mi ý kiến đóng góp và câu hi xin gi vDongTayHoiNgo_fund@sinhvienusa.org

Xin trân trng cm ơn./.

Nguyễn Đình Phú
Tổng thư ký Hội Thanh Niên – Sinh Viên Việt Nam tại Hoa Kỳ
Trưởng Ban tổ chức sự kiện Vòng tay nước Mỹ 2
(Đã ký)

Nghệ sỹ không muốn – Mong muốn và hành động

Hơn một tháng qua từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, ngày nào cũng vậy, thành một thói quen sáng, trưa chiều tối, những thông tin làm mình quan tâm luôn là những thông tin liên quan đến biển đảo Việt Nam chứ không phải  sao nào yêu ai? bỏ ai? cặp đôi nào tuyên bố li dị? hoa hậu trả vương miện…?

Mừng vì phần lớn những người mình quen từ thân cho đến sơ đã không thờ ơ, không mặc kệ và vô cảm, tất cả đều bày tỏ bức xúc, phẫn nộ…mình cũng vậy, khi biết những thông tin về các hoạt động khiêu khích của Trung Quốc, cảm xúc trước tiên của mình đó là sự giận dữ. Giận dữ vì đã có kẻ chà đạp lên những gì mà đối với mình là rất thiêng liêng- đó là tình yêu Tổ Quốc, và trong giận dữ còn có cả sự lo sợ, lo sợ chúng ta sẽ đánh mất hoà bình. Vốn sinh ra và lớn lên khi hòa bình đã được lập lại, nhưng sống trong một gia đình có truyền thống quân nhân, mình hiểu  rất rõ cái giá, sự mất mát mà gia đình nội, ngoại, bố mẹ, các chú dì đã phải trả để anh chị em mình có được cuộc sống như ngày hôm nay. Những tưởng chiến tranh chỉ có trong những câu chuyện của ông bà, ba mẹ hay trong các trang các trang sử hào hùng của dân tộc, hay chỉ có trong những vai diễn về người lính trong các bộ phim mà mình từng hóa thân, vậy mà giờ đây rất có thể chiến tranh sẽ xảy ra bất cứ lúc nào rất gần.

Hành động khiêu khích của Trung Quốc mỗi ngày mỗi phức tạp hơn, hôm sau nguy hiểm hơn hôm trước, tuần sau ngang ngược hơn tuần trước. Vì giận dữ, đã có lúc mình thật sự thất vọng trước một bài phát biểu của một người lãnh đạo đã không làm thõa mãn lòng dân. Đau lòng khi nhìn thấy những hình ảnh hoang tàn sau hai cuộc bạo động lớn vừa qua đã gây thiệt hại nghiêm trọng mà hậu quả là những công dân thành phố chia ra, gánh lên vai một phần những thiệt hại đó, con số đền bù để khắc phục hậu quả nghe đâu lên đến nhiều ngàn tỷ …

Khi cơn giận và những bức xúc đi qua bình tĩnh hơn mới giật mình. Ồ biết đâu đây chính là những gì mà phía Trung Quốc mong muốn: họ khiêu khích khiến chúng ta bị sự giận dữ che mờ lý trí và đi những bước đi sai lầm.

Văn nghệ sỹ sẽ làm được gì trong tình hình hiện nay?

Làm được nhiều chứ. Bớt sống thực dụng và ích kỉ, nghệ sỹ có cách đóng góp riêng của mình bằng tài năng, sự sáng tạo trong chuyên môn, đóng góp tinh thần hay vật chất tùy thuộc vào khả năng của từng người, nổ lực làm tốt những gì đang làm ở hiện tại đó cũng là cách đóng góp thiết thực nhất. Hãy biến sự giận dữ của mình thành động lực để làm những điều thật thiết thực- góp tiếng nói yêu thương để những người Việt Nam đoàn kết hơn vào giờ phút này, nỗ lực 200-300% trong những việc hàng ngày để xây dựng một nước Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn, vững vàng hơn.

Nghệ sỹ không muốn 

Nói ngắn gọn không ( dùng tiền ) của dân để xây dựng những đề án văn hóa nghệ thuật phù phiếm lãng phí,  thiếu thực tế kiểu “ xây mới công trình nhà hát có quy mô lớn từ 2500-3000 ghế, xây mới 40 nhà hát có quy mô lớn từ 1000-2000 ghế ngồi tại các tỉnh…” xây xong rồi ai là người có năng lực để quản lý đây? Và quản lý như thế nào?

Không tạo ra những tác phẩm nhạt nhẽo vô hồn, dở một cách toàn diện và vững chắc, đó là cách đóng góp cụ thể nhất.

Và tôi không muốn mình sẽ có những trãi nghiệm thực tế cho những vai diễn khi phải đi trong chiến tranh, không phải vì sợ, không phải vì hèn chỉ vì tôi không muốn trên bàn thờ của dòng họ mình sẽ có thêm chân dung một liệt sỹ vô danh nào hết. Không ở đâu như đất nước này nghĩa trang liệt sỹ lại nhiều đến như vậy.

Và ngược lại nghệ sỹ muốn

Muốn gửi đến các anh- những người lính bình dị đang ở nơi tuyến đầu, lòng biết ơn vô bờ của các thế hệ nghệ sỹ chúng tôi, mong các anh hãy kiềm chế và bình tĩnh để không bị mắc mưu.Chúng tôi cần sự thay đổi, Việt Nam phải thay đổi mạnh mẽ. Có lẽ đây là thời điểm vàng cho sự thay đổi đó và đó cũng là thử thách. Tôi tin rằng, mỗi một thử thách cũng là một cơ hội, và hi vọng chúng ta sẽ nắm được cơ hội quý giá này cho Việt Nam.

Xem bài gốc trên facebook cá nhân của nghệ sĩ Hồng Ánh.

15 câu nói giá trị từ Bill Gates dành cho các bạn trẻ học tập!

Có ước mơ lớn và theo đuổi những ước mơ đó tới cùng,với lòng quyết tâm sắt đá đã hình thành lên một Bill Gates hoàn toàn khác so với các doanh nhân cùng thời. Hãy cùng tham khảo những câu nói đã làm nên một con người giàu nhất thế giới này!

1. Khi bạn có tiền trong tay, chỉ có bạn quên mất mình là ai. Nhưng khi bạn không có đồng nào, cả thế giới sẽ quên mất bạn là ai. Đó là cuộc sống!

2. Cuộc sống vốn không công bằng, hãy tập quen dần với điều đó

3. Tôi đã thi trượt một số môn, nhưng bạn tôi thì đã qua tất cả. Bây giờ anh ta là một kĩ sư trong Microsoft còn tôi là chủ sở hữu của Microsoft

4. Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn.
Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, thì đó là lỗi của bạn.

5. Tôi đã học tất cả mọi thứ nhưng chưa bao giơ đứng đầu… Nhưng ngày nay những người đứng đầu của những trường đại học tốt nhất là nhân viên của tôi.

6. Hầu hết mọi người đánh giá quá cao những gì họ có thể làm trong một năm và đánh giá quá thấp những gì họ có thể làm trong mười năm

7. Mọi người sẽ không bao giờ ngó ngàng đến lòng tự trọng của bạn, điều mà họ quan tâm chính là thành tựu mà bạn đạt được. Do đó, trước khi có được những thành tựu, bạn đừng nên quá chú trọng hay cường điệu lòng tự trọng của bản thân mình

8. Ăn mừng thành công cũng tốt, nhưng quan trọng hơn là phải biết chú ý đến những bài học của thất bại

9. Thành công là một người thầy tồi tệ. Nó quyến rũ những người thông minh vào ý nghĩ rằng họ không thể thất bại

10. Kiên nhẫn là yếu tố quan trọng của thành công

11. Tôi chọn người lười biếng để làm những việc khó khăn. Bởi một người lười biếng sẽ tìm ra cách dễ dàng để làm việc đó.

12. Bạn sẽ không thể kiếm được 40.000 USD/năm ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Bạn cũng không là một ông sếp lớn có điện thoại gắn trên ô tô cho đến khi bạn kiếm được hai thứ đó

13. Nếu bạn nghĩ rằng giáo viên của mình thật hắc ám thì hãy đợi đến khi bạn làm việc dưới trướng một ông chủ. Rồi bạn sẽ thấy với ông ta thì không có khái niệm nhiệm kỳ nắm quyền

14. Nếu như bạn làm rối tung mọi chuyện lên thì đó không phải lỗi của bố mẹ bạn, thế nên đừng có mà ca thán về lỗi lầm của bạn, hãy rút kinh nghiệm từ chúng

15. Trước khi bạn ra đời, bố mẹ của bạn đã chẳng “đáng chán” như bây giờ. Bố mẹ đã trả những hoá đơn của bạn, giặt giũ quần áo bạn sạch sẽ và lắng nghe bạn kể xem bạn sành điệu như thế nào. Vì vậy trước khi cằn nhằn bố mẹ điều gì thì hãy dọn dẹp buồng ngủ của bạn cho ngăn nắp đi đã!

Theo Sưu tầm / Mlog.yan.vn

Bài gốc có thể xem tại đây.