Cuộc tụ hội đặc biệt ở Dinh Thống nhất

Theodore Osius, Đại sứ Mỹ tại VN đã khiến các quan khách trong hội trường ở Dinh Thống nhất (TPHCM) cười sảng khoái khi bài phát biểu của ông pha cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh đều đặn khi nói về một chương trình làm thay đổi quan hệ Việt – Mỹ bắt đầu cách đây 20 năm…

Thứ 7, đầu giờ chiều sớm, sảnh chính Dinh Thống nhất bị “phong tỏa đặc biệt”, khách thăm quan được mời đi lối sau để dành không gian cho một sự kiện đặc biệt : lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP).

Theodore Osius đã phải thú nhận rằng ông không thể nghĩ ra cách nào tốt hơn để bắt đầu năm 2015 – kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ – bằng cách chào mừng kỷ niệm 20 năm FETP, thậm chí còn gọi lễ kỷ niệm mà một sự kiện lịch sử.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đến thăm cán bộ chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại TPHCM. Ảnh: Bộ Ngoại giao Mỹ.

Cách gọi của ông có lẽ không phải sự ưu ái ngôn từ thái quá. FETP xứng đáng được coi là chương trình có tầm nhìn, tạo ra những thay đổi lớn lao quan hệ Việt – Mỹ.

“Trong 20 năm qua, quan hệ hai nước chúng ta đã mở rộng để bao gồm rất nhiều các hoạt động, từ mối quan hệ thương mại phát triển nhanh chóng đến tăng cường hợp tác an ninh. Nhưng tôi tin rằng chính hợp tác của chúng ta trong lĩnh vực giáo dục đã giúp Mỹ và VN vạch ra lộ trình cho một mối quan hệ mới từ cách đây 20 năm” – Đại sứ Mỹ nói trước hàng trăm cựu sinh viên VN theo học tại FETP.

Có quá nhiều gạch đầu dòng nếu phải kể ra tên những người đi cùng FETP trong hai thập niên qua, trong đó phải kể đến những ủng hộ chính trị quan trọng, có tầm nhìn của các nhà lãnh đạo VN cũng như các nhà lãnh đạo Mỹ. Tụ hội trong buổi lễ kỷ niệm ở hội trường Dinh Thống nhất, những con người gắn bó với FETP đều không quên thời điểm lịch sử của chương trình này: trước cả thời điểm Mỹ bỏ cấm vận kinh tế VN và bình thường hóa quan hệ.

Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung, người gắn bó với FETP cả khi ông theo học tại Mỹ cũng như trong nhiệm kỳ công tác tại LHQ trong vai trò Đại sứ VN tại tổ chức quốc tế này, nhấn mạnh rằng có nhiều yếu tố cùng nhau đưa đến những tiến bộ trong hoạt động của FETP và quan hệ hai nước.

Sự ra đời của chương trình bắt đầu vào năm 1995 gắn liền với hoạt động của các cựu chiến binh Mỹ đã từng tham chiến tại VN là ông Thomas Vallely (Giám đốc Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard), ông John Kerry nay là Ngoại trưởng Mỹ và TNS, John McCain, chủ tịch UB quân lực của Thượng viện Mỹ.

“Chúng tôi còn nhớ từ các năm 1984-1985, ông Vallely liên hệ với ông Hoàng Bích Sơn, khi đó là Đại sứ, Đại diện thường trực VN tại LHQ – New York, cơ quan ngoại giao duy nhất của VN ở Mỹ vì lý bấy giờ hai nước chưa có quan hệ ngoại giao. Sau này ông Sơn làm Trưởng ban đối ngoại TƯ Đảng rồi chủ nhiệm UB Đối ngoại của QH. Ông    Vallely muốn làm một điều gì đó về VN sau lần trở lại VN trước đó, chứng kiến các khó khăn kinh tế và hậu quả nặng nề của chiến tranh” – Thứ trưởng Ngoại giao kể lại.

Ông nhớ, trong những hoạt động đầu tiên, ông Vallely và Viện Đại học Harvard nghiên cứu về kinh tế VN đã đưa ra nhiều đề xuất sâu sắc, thẳng thắn. Kết quả tổng hợp lớn đầu tiên là cuốn “Theo hướn rồng bay” hoàn thành vào năm 1994, trong đó các tác giả ứng dụng lý thuyết kinh tế thị trường còn mới mẻ ở VN để giới thiệu những cân đối cơ bản của một nền kinh tế thị trường có nghĩa là gì trong điều kiện cụ thể ở VN, từ đó đề xuất những chính sách về kinh tế vĩ mô, kinh tế ngành với hoài bão là VN sẽ biến những tiềm năng có thực, rất đáng trân trọng của mình thành một con rồng như hiện tượng một số con rồng ở Đông Á lúc bấy giờ.

“Ngay từ những ngày tháng ban đầu, còn nhiều khó khăn khi ấy, các lãnh đạo VN và TPHCM đã quan tâm, thậm chí đặt hàng cụ thể với Viện Đại học Harvard. Với chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyên Cơ Thạch đã mời, tạo điều kiện cho công việc của nhóm nghiên cứu.

Theo chúng tôi được biết, nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao đã rất quan tâm, đọc cuốn “Theo hướng rồng bay”, tôi còn nhớ đôi lần được Bộ Ngoại giao phân công đi dịch trong những trao đổi đoàn của ông Đào Duy Tùng, bấy giờ là Thường trực Ban Bí thư với nhóm nghiên cứu. Các nhà lãnh đạo VN mong muốn VN không chỉ thoát nghèo nàn, mà còn sớm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sánh vài các cường quốc năm châu như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh” – ông Trung kể lại.

Từ kinh nghiệm của các nước về vai trò của giáo dục đại học có chất lượng cao trong phát triển kinh tế và thực tế ở VN, đã xuất hiện ý tưởng về chương trình trao đổi giáo dục Fulbright với VN được ông Vallely thúc đẩy, các TNS Kerry, Mc Cain ủng hộ, được Chính phủ VN đồng ý để bắt đầu từ năm 1991-1992, trước cả khi Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với VN.

“Chương trình ra đời trong bối cảnh đó, được sự ủng hộ của Chính phủ VN, trong đó có sự quan tâm trực tiếp của nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, và của các đồng chí lãnh đạo TPHCM. Điều đáng ghi nhận chương trình chủ yếu do người VN quản lý, phần lớn các giảng viên, cán bộ là người VN, như phía Mỹ nêu là trong một mục tiêu ngay từ đầu” – Thứ trưởng phát biểu.

Tầm nhìn 20 năm kế tiếp

Ông Thomas Vallely – kiến trúc sư trưởng của chương trình. Ảnh: FEPT

Trong 20 năm kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ, ngoài chính trị, kinh tế với những thành tựu hợp tác mang tính dẫn dắt, chi phối chung, giáo dục có thể được là lĩnh vực nổi bật nhất trong quan hệ Việt – Mỹ. Một thế hệ người Việt được đào tạo tại Mỹ ngày càng lớn mạnh. Tại Mỹ hiện có hơn 16.500 sinh viên VN theo học tại các trường đại học của nước này, đứng thứ 8 trong số các nước có nhiều du học sinh nhất theo học tại Mỹ.

Ngoài gần 1200 học viên theo học chương trình FEPT tại VN, chương trình Fulbright – một chương trình được thành lập nhiều tháng trước khi hai nước bình thường hóa quan hệ – cũng là một điểm sáng. Đại sứ Mỹ cho hay, có hơn 600 cựu sinh viên của chương trình Fulbright, trong đó có nhiều người đã trở thành lãnh đạo ở khắp VN, cả ở cấp cao.

Với FEPT, không ít nhà lãnh đạo VN còn tham gia cả ở kênh giảng dạy và đối thoại chính sách như Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Nguyên Phó Thủ tướng, Chủ tịch MTTQ VN đương nhiệm Nguyễn Thiện Nhân là một trong những thầy giáo đầu tiên của chương trình này.

Tháng 6/2014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý chủ trương đầu tư dự án thành lập Trường Đại học Fulbright VN theo loại hình trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận; do Quỹ tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam (TUIV) đầu tư tại TP.HCM. Quỹ tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam (TUIV) do ông Thomas Vallely làm chủ tịch, “kiến trúc sư trưởng” của FEPT từ 20 năm trước. 20 năm sau, ông tiếp tục một con đường rộng hơn với tất cả những người bạn tri thức Việt – Mỹ đông đảo.

Như Đại sứ Theodore Osius nói sau 20 năm, họ lại cùng ngồi lại để trao đổi về con đường mà hai nước sẽ tiếp tục cùng đi trong 20 năm tiếp theo. Như Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký quan hệ đối tác toàn diện vào năm 2013, hai nhà lãnh đạo đã đặt ngoại giao giáo dục làm trung tâm.

Theo http://vietnamnet.vn/

Xem bài gốc tại đây

10 ngành học có mức lương cao nhất tại Mỹ

College Factual đưa ra bảng xếp loại 10 chuyên ngành được trả mức lương cao nhất ở Mỹ.

Dữ liệu tiền lương được PayScale – tổ chức có cơ sở dữ liệu lương thưởng cá nhân lớn nhất thế giới khảo sát và cung cấp. 10 ngành học có mức lương cao nhất đều liên quan đến các ngành STEM (STEM là bằng dành cho Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán).

1: Kĩ thuật dầu mỏ: 89.000 USD

Tại Mỹ, bằng cấp của các ngành kĩ thuật đảm bảo thu nhập cao khi đi làm. Kĩ thuật dầu mỏ có mức lương khởi điểm trung bình cao nhất: 89.000 USD/ năm, mức lương này tiếp tục tăng, đến giai đoạn giữa sự nghiệp là 159.900 USD/ năm. Đây là chuyên ngành khó. Mỗi năm ở Mỹ chỉ có khoảng 1.000 sinh viên tốt nghiệp. Sinh viên ra trường thường “đầu quân” cho các công ty hoặc các hãng sản xuất dầu mỏ.

Kĩ sư là công việc có thu nhập cao ở Mỹ.

Ngoài dầu mỏ, nhiều ngành kĩ thuật khác ở Mỹ cũng mang đến thu nhập đáng mơ ước. Kĩ thuật điện có thu nhập trung bình khởi điểm là 62.400 USD, kĩ thuật cơ khí: 57.800 USD, kĩ thuật xây dựng: 52,700 USD.

2: Khoa học máy tính: 53.800 USD

Khoa học máy tính tập trung nghiên cứu sự tương tác giữa con người và máy tính. Chuyên ngành này mở ra cơ hội việc làm trong nhiều lĩnh vực: phát triển hệ thống máy tính, sản xuất phần mềm, nghiên cứu hoặc làm việc trong các tổ chức giáo dục, các tổ chức của chính phủ.

Một ngành tương tự là “Toán học và Khoa học máy tính” cũng mang lại mức lương khởi điểm trung bình khá cao là 50.700 USD/ năm.

3: Nghề điều dưỡng: 53.300 USD

Điều dưỡng là công việc luôn có nhu cầu cao về nhân lực. Ra trường với tấm bằng điều dưỡng, sinh viên có thể nhận được mức lương trung bình khởi điểm là 53.300 USD/ năm. Giai đoạn giữa sự nghiệp, mức lương trung bình là 70.100 USD/ năm. Sinh viên có thể tìm việc trong nhiều lĩnh vực như: chăm sóc trẻ sơ sinh, sức khỏe gia đình, phẫu thuật, chăm sóc người già.

Tại Mỹ, nghề điều dưỡng luôn có nhu cầu cao về nhân lực..

4: Toán học ứng dụng: 52.200 USD

Toán học ứng dụng cung cấp cho người học những tri thức toán học được sử dụng trong các tình huống thường ngày để tính toán giá cả, đưa ra sự ước lượng, dự đoán kết quả và thiết kế hệ thống. Sinh viên ra trường làm việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau: xây dựng, giáo dục, tài chính, kinh tế,… Mức lương khởi điểm là 52.200 USD/ năm. Mức lương ở giai đoạn giữa sự nghiệp là 101.850 USD/ năm.

5: Vật lí học: 50.800 USD

Chuyên ngành vật lí là nền tảng quan trọng để mỗi cá nhân có thể phát triển sự nghiệp ở 1 số cơ quan, tổ chức như NASA, các cơ sở khoa học tư nhân, nhà nước. Tấm bằng cử nhân vật lí hứa hẹn mức lương khởi điểm trung bình: 50.800 USD/ năm. Mức lương giai đoạn giữa sự nghiệp là 90.500 USD/ năm.

6: Quản lí hệ thống thông tin: 49.600 USD

Quản lí hệ thống thông tin là một bộ phận rất quan trọng trong nhiều cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp. Sinh viên ngành này được học cách thiết lập, điều hành, quản lí hệ thống, mạng lưới và lưu trữ thông tin cho doanh nghiệp, tổ chức,… Quản lí hệ thống thông tin có sự liên hệ đến các chương trình máy tính. Mức lương trung bình ở giai đoạn giữa sự nghiệp là: 86.600 USD.

7: Quản lí xây dựng: 49.200 USD

Quản lí xây dựng dành cho những ai quan tâm đến xây dựng và phát triển, kinh doanh và quản lí. Ngành này cũng đào tạo bậc cao đẳng ở một số trường. Công việc phù hợp với những người có khả năng tư duy ở cấp độ cao liên quan đến quản lí, toán học và kinh doanh. Mức lương trung bình giai đoạn giữa sự nghiệp là 83.300 USD.

8: Hệ thống thông tin máy tính: 49.000 USD

Sinh viên lựa chọn ngành “hệ thống thông tin máy tính” được học về mạng lưới máy tính, các vấn đề bảo mật, công nghệ thông tin. Sinh viên ra trường có thể làm việc trong các doanh nghiệp với những công việc cụ thể như: quản lí bộ phận IT, thiết kế hệ thống, quy trình làm việc trên máy tính cho các doanh nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp ngành CIS có thể nhận mức lương khởi điểm trung bình khoảng 49.000 USD, ở giữa sự nghiệp là 85.900 USD.

9: Toán học và Thống kê: 48.900 USD

Với ngành thống kê, sinh viên được học cách phân tích những con số, trên cơ sở đó phát hiện nguyên nhân, đưa ra giải pháp và dự doán xu hướng. Những kĩ năng cần thiết của người làm thống kê được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: kinh doanh, chăm sóc sức khỏe, nghiên cứu khoa học,giáo dục,… Mức lương khởi điểm của những người mới tốt nghiệp là 48.900 USD. Giai đoạn giữa sự nghiệp mức lương là 99.800 USD/ năm.

10. Lập trình máy tính: 48.000 USD

Lập trình viên là ngành học thời thượng ở Mỹ..

Lập trình máy tính được biết đến với những công việc cụ thể: thiết kế, xây dựng và bảo trì các chương trình máy tính (phần mềm). Công việc đòi hỏi sự sáng tạo cũng như các kỹ năng đánh giá, phân tích , đưa ra các giải pháp thiết kế hoặc cách tiếp cận công nghệ mới trong công việc cụ thể. Mức lương khởi điểm trung bình của ngành này là 48.000 USD.

Theo http://www.tamguong.vn/

Xem bài gốc tại đây

Top 10 Đại học đào tạo ra những tỷ phú thế giới

Theo khảo sát của trang billionairecensus, thế giới hiện có 2.325 tỷ phú. Các tỷ phú này đến từ hơn 700 trường đại học trên toàn thế giới.

Đại học Pennsylvania (Mỹ) – ngôi trường có nhiều tỷ phú theo học nhất trên thế giới.

Theo Wealth – X, số lượng tỷ phú của thế giới được dự đoán sẽ vượt qua con số 3.800 vào năm 2020. Không có gì đáng ngạc nhiên, đại đa số tỷ phú thuộc lĩnh vực tài chính, đầu tư và ngân hàng. Có 2.039 tỷ phú là nam, tăng khoảng 7.9% so với năm ngoái. Trong số này, 60% là tự tạo ra tài sản, 26.9% là kết quả của thừa kế và tự làm ra, chỉ 13.1 % tỷ phú sở hữu tài sản khổng lồ do thừa kế.

Cuộc khảo sát cũng chỉ ra sự đóng góp về giới của tỷ phú. Trong số 2.325 tỷ phú có 286 là nữ. Trong số những nữ tỷ phú này, có 65% trở thành tỷ phú do thừa kế, 17.5% kết hợp giữa thừa kế và tự làm, và 17.1% là hoàn toàn tự làm ra tài sản. Với những phụ nữ tự tạo ra tài sản, 40,8% đến từ Mỹ.

Trong khi Mỹ có 571 tỷ phú, Trung Quốc đứng vị trí thứ hai với 190. Vương quốc Anh đứng thứ 3 với 130 tỷ phú. Đức và Nga cùng chiếm giữ các vị trí kế tiếp với con số lần lượt là 123 và 114. New York là thành phố có nhiều tỷ phú nhất với 103 người. Từ năm 2013 đến nay thế giới có thêm 155 tỷ phú mới. Châu Âu là khu vực có nhiều tỷ phú nhất.

Theo khảo sát, 35% tỷ phú trên thế giới không có bằng cử nhân, 1 vài người trong số họ bỏ học từ thời phổ thông. Tuy nhiên, 65% tỷ phú theo học đại học, 21% nhận bằng MBA, 26% có bằng thạc sĩ và 11% có học vị tiến sĩ.

Dưới đây là danh sách 10 trường đại học có nhiều tỷ phú theo học nhất.

1: Đại học Pennsylvania (Mỹ)

Số tỷ phú theo học ở trường: 25

Đại học Pennsylvania đứng đầu danh sách với 25 tỷ phú từng là sinh viên của trường. Được thành lập năm 1740, trường cung cấp các chương trình khác nhau thông qua các chuyên khoa chính: truyền thông, Giáo dục, Luật học, Nghệ thuật & Khoa học, nha khoa, thiết kế, Kỹ thuật và Ứng dụng Khoa học, Y khoa, Điều dưỡng, Chính sách và thực hành, Thú y và kinh doanh.

2: Đại học Havard (Mỹ)

Số tỷ phú theo học ở trường: 22

Đại học Havard (Mỹ).

Harvard là một trong những viện đại học danh tiếng nhất thế giới. Viện Đại học Harvard được tổ chức thành 11 đơn vị học thuật – 10 phân khoa đại học và Viện Nghiên cứu Cao cấp Radcliffe. Không chỉ là nơi nhiều tỷ phú theo học, Havard có 150 người được trao giải Nobel là sinh viên, giảng viên, hay nhân viên của trường. Trong số các tổng thống Hoa Kỳ, có tám người là cựu sinh viên Harvard.

3: Đại học Yale (Mỹ)

Số tỷ phú theo học: 20

Đại học Yale (Yale University) là một trong những thành viên của Ivy League. Trường bao gồm 3 bộ phận chính: Cao đẳngYale, Đại học Nghệ thuật và Khoa học, các trường đào tạo chuyên ngành. Đại học Yale tổ chức khóa học và nghiên cứu thông qua 11 trường: nghệ thuật và khoa học, thần học, lâm nghiệp và nghiên cứu môi trường, pháp luật, quản lý, y học, điều dưỡng, và 4 trường nghệ thuật: kiến trúc, nghệ thuật, kịch, và âm nhạc.

Đại học Yale (Mỹ).

4: Đại học Nam California (Mỹ)

Số tỷ phú theo học ở trường: 16

Đại học Nam California (Mỹ).

Đại học Nam California thành lập năm 1880, là trường đại học nghiên cứu tư thục. Trường bao gồm các khoa chuyên ngành khác nhau như kế toán, kiến trúc, kinh doanh, nghệ thuật điện ảnh, truyền thông, nha khoa, giáo dục, kỹ thuật, nghệ thuật, lão khoa, luật, y khoa, âm nhạc, dược, chính trị học, kế hoạch và phát triển, công tác xã hội và sân khấu.

5: Đại học Princeton (Mỹ)

Số lượng tỷ phú theo học ở trường: 14

Đại học Princeton (Mỹ).

Đại học Princeton xếp thứ tư trong các trường và viện đại học cổ xưa nhất ở Hoa Kỳ. Princeton cung cấp nhiều chương trình nghiên cứu sau đại học (đáng kể nhất là chương trình Ph.D.) và xếp hạng tốt nhất trong nhiều ngành, bao gồm toán, vật lí, thiên văn và vật lí plasma, kinh tế, lịch sử và triết học.

6: Đại học Cornell (Mỹ)

Số tỷ phú từng theo học ở trường: 14

Đại học Cornell (Mỹ).

Là thành viên trẻ nhất của Ivy League, Cornell được thành lập năm 1865 bởi Ezra Cornell và Andrew Dickson White. Ra đời một thời gian ngắn sau Nội chiến Mỹ giữa thời Cách mạng công nghiệp, những người sáng lập dự định viện đại học này sẽ đóng góp vào mọi ngành của kiến thức – từ cổ điển đến khoa học và từ lý thyết đến ứng dụng. Ezra Cornell – người sáng lập trường từng nói: “Tôi sẽ thành lập một học viện nơi mà bất kì ai cũng có thể tìm thấy sự hướng dẫn cho mọi ngành học.”

7: Đại học Stanford (Mỹ)

Số tỷ phú theo học ở trường: 14

Đại học Stanford (Mỹ).

Viện Đại học Leland Stanford Junior, thường được gọi là Viện Đại học Stanford là viện đại học tư thục thuộc California (Hoa Kỳ). Là trường có diện tích lớn thứ hai trên thế giới, Stanford có chương trình cho sinh viên đại học cũng như sinh viên sau đại học. Cùng với Viện Đại học Havard, Viện Đại học Yale và Viện đại học Princeton, Viện Đại học Stanford nằm trong nhóm những viện đại học tốt nhất của Hoa Kỳ.

8: Đại học California (Berkeley, Mỹ)

Số tỷ phú theo học ở trường: 12

Đại học California (Berkeley, Mỹ).

Berkeley có hệ thống giáo dục bậc cử nhân rất đa dạng và được xem là trung tâm nghiên cứu của rất nhiều ngành học. Viện đại học đạt nhiều thành tích về vật lí, hóa học và các ngành sinh học trong thế kỉ 20. Trường cũng đạt được nhiều giải thưởng về Toán, giải Nobel Kinh tế và giải Nobel Văn học.

9: Đại học Mumbai, Ấn Độ

Số tỷ phú theo học ở trường: 12

Đại học Mumbai (Ấn Độ).

Xếp vị trí thứ 8 về số lượng tỷ phú theo học, Đại học Mumbai là đại học Châu Á duy nhất lọt vào top 10 những trường có nhiều tỷ phú theo học. Đại học Mumbai được thành lập năm 1857. Đây là một trong những trường đại học lâu đời nhất và tốt nhất ở Ấn Độ.Trường có ba cơ sở tại Kalina, Fort Ratnagiri, Kalina với 354 trường cao đẳng trực thuộc và 36 ngành.

10: Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn

Số tỷ phú theo học ở trường: 11

Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn.

Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn là một cơ sở nghiên cứu và giáo dục công lập chuyên về các ngành khoa học xã hội ở Luân Đôn, và là một trường thành viên của liên hiệp Viện Đại học Luân Đôn . LSE được thành lập vào năm 1895, chính thức gia nhập Viện Đại học London vào năm 1900 dưới hình thức một phân khoa kinh tế và bắt đầu tự cấp bằng tốt nghiệp từ năm 1902.

Theo http://www.tamguong.vn/

Xem bài gốc tại đây

Rio Lâm: “Văn hoá Đà Nẵng phát triển chưa xứng tầm”

Rio Lâm: Nước Mỹ qua góc nhìn của một cây bút trẻ 

“Đà Nẵng phát triển về kinh tế, nhưng văn hoá chưa xứng tầm” Rio Lâm đã nói như vậy về không gian văn hoá Đà Năng, cô và các bạn lập ra nhóm Vừng Ơi để thúc đẩy các dự án văn hoá, sáng tạo, mang lại cho công chúng nhiều cơ hội thưởng thức nghệ thuật chất lượng cao.

Bạn đang làm một dự án Vừng ơi nhằm xây dựng không gian văn hoá, nghệ thuật tại Đà Nẵng, Rio Lâm có thể chia sẻ cho các bạn một vài thông tin về dự án này? 

Từ cách đây mấy năm mình đã cảm thấy muốn làm gì đó cho Đà Nẵng. Rio Lâm là người Đà Nẵng, thấy kinh tế phát triển nhưng văn hoá thì chưa xứng tầm. Hè vừa rồi mình về Đà Nẵng, gặp những bạn cùng chí hướng, ngồi lại với nhau và lập ra tổ chức Vừng ơi.

Gọi là Vừng ơi thì sau khi Vừng ơi, là Mở ra. Tụi mình tin là chỉ có mở mang về đầu óc, tri thức, nhận thức thì mới thay đổi được tư duy.

Ví dụ như nghe nhạc chẳng hạn, bên cạnh nhạc xưa và Vpop mà lâu nay mọi người vẫn nghe, tụi mình muốn giới thiệu thêm cho mọi người về những dòng nhạc hấp dẫn khác của thế giới, như bày thêm món ăn cho các bạn trẻ, để các bạn có them lựa chọn.

Mỗi tháng Vừng Ơi tổ chức 2 buổi đọc sách, tụ tập ở một quán café, bàn về Số Đỏ, về Rừng Na Uy, về các tác phẩm nổi tiếng khác.

Vừng ơi cũng mời các nghệ sĩ nổi tiếng đến, mời họ đến nói chuyện với các bạn thích văn học nghệ thuật.

Vừng Ơi hiện có 15 bạn, 1 bạn ở Mỹ, 2 ở Hà Nội, 1 ở Sài Gòn. Có 3 bạn quản lý chính, mình phụ trách về truyền thông.

Rio Lâm - cô gái cá tính người Đà Nẵng đang tổ chức dự án Vừng Ơi nhằm đem đến những giá trị văn hoá cao cấp cho người dân ở thành phố này
Rio Lâm – cô gái cá tính người Đà Nẵng đang tổ chức dự án Vừng Ơi nhằm góp phần đem đến những giá trị văn hoá cao cấp cho người dân ở thành phố này

15323849984_a8314eeae3_z

Bắt đầu làm từ 8.2014, đều đặn mỗi tháng Vừng Ơi tổ chức 2 cuộc sinh hoạt văn hoá, ngoài ra còn có các buổi bàn luận về sách hay. 

15948578551_708b0e73fa_z

Nhóm đã có 2 buổi đến những địa điểm thú vị, như Làng Lụa Hội An, để thăm quan bảo tàng văn hoá Sa Huỳnh, nhà thờ tộc họ Nguyễn Tường …

Các bạn đặt mục tiêu, kỳ vọng như thế nào cho Vừng ơi?

Trong 5 năm: Vừng ơi sẽ trở thành một tổ chức đem đến những sự kiện về văn hoá nghệ thuật cao cấp đến Đà Nẵng như các buổi biểu diễn nhạc giao hưởng, giao lưu với những nghệ sĩ nổi tiếng. Ở Việt Nam người ta thường chỉ nói đến văn hoá nghệ thuật ở Hà Nội, Sài Gòn hay cung đình thì ở Huế, Đà Nẵng vẫn chưa có một nền nghệ thuật xứng tầm so với sự phát triển về kinh tế.

Trong 10 năm:  Mô hình Vừng Ơi dành riêng cho các địa phương nhỏ như sẽ được nhân rộng ra ở các tỉnh thành khác như Vừng Ơi Cần Thơ, Vừng Ơi Nghệ An… các nhóm hoạt động độc lập nhưng hỗ trợ cho nhau, tạo thành một mạng lưới. Tuy vậy không phụ thuộc vào một headquarter nào cả.

Cho mình hỏi thật, đến giờ phút này, Rio thích ở lại Mỹ hay thích về Việt Nam? 

Rio Lâm muốn về Việt Nam. 2016 học xong, Rio Lâm định sẽ làm việc ở môi trường quốc tế một vài năm cho có kinh nghiệm, tích luỹ vốn rồi sẽ về Việt Nam để làm việc cho một tổ chức phi chính phủ về văn hoá nghệ thuật.

Nếu chỉ ra 3 điều Rio Thích ở Việt Nam hơn ở Mỹ, đó là những điều gì? 

Đây chỉ là những điều rất cá nhân của Rio nhé: thời gian một tháng trước Tết âm lịch, hoa mai và biển Đà Nẵng.

Còn nếu để liệt kê ra ba điều khách quan thì Rio chưa nghĩ ra được. Nếu bạn nào nghĩ ra thì kể cho mình biết với nhé.

Làm sao để viết giỏi

Đã từng viết sách bằng tiếng Anh, Rio có thể chia sẻ vài bí quyết với các bạn du học sinh, làm sao để rèn được kỹ năng viết tiếng Anh cho tốt?

Trước hết, về việc học tiếng Anh nói chung, các bạn nên coi các show giải trí của Mỹ, ban đầu có thể coi sub title tiếng Việt. Rio Lâm thích How I met your mother, House M.D., coi xong 3-4 tiếng, thấy mình tiến bộ hẳn lên.

Về kỹ năng viết thì mình nghĩ việc đọc là cực kỳ quan trọng. Lên mạng đọc những trang giải trí, nhẹ nhàng, ban đầu mỗi tối 2-3 bài, đọc thoải mái, kể cả những bài kiểu “làm sao anh ấy thích mình”. Đó là thứ tiếng Anh đương đại, người Mỹ đang dùng. Khi đọc những thức gắn với giải trí đó không phải là nhiệm vụ nên ngấm dễ hơn. Kênh tiếp nhận được luyện thì output sẽ ngày càng lên.

Khi viết thì nên có dàn bài, cứ liệt kê ra rồi viết theo giàn bài đó.

Khi các bạn khi viết có cụm từ tiếng Anh mà thấy không chắc thì copy cho lên google, nếu thấy nó phổ biến thì có thể yên tâm là đa số người bản xứ cũng dùng cụm từ đó, nếu thấy ít thì cần cân nhắc.

Nhân dịp năm mới, Rio muốn nói gì với cộng đồng du học sinh trên toàn thế giới nói chung và cộng đồng du học sinh Mỹ nói riêng? 

Năm mới em Rio nghĩ năm Mùi là năm rất hên.

Rio muốn nhắn với các bạn mới qua: Nước Mỹ là một nơi rất rộng mở, có thể bạn thấy người Mỹ vô tình, không thân thiết như ở Việt Nam, nhưng nước Mỹ cũng có những cái thân tình ấm cúng, bạn chưa cảm nhận được là do bạn chưa mở lòng ra trải nghiệm và đón nhận. Người ta có hình ảnh American Dream, nhưng nước Mỹ không phải nơi đảm bảo mọi ước mơ của bạn sẽ thành sự thật. Tuy vậy, Rio tin rằng nước Mỹ có một “phép màu” giúp bạn nhận ra mình thực sự là ai, và do đó biết được ước mơ thực sự của mình là gì. Còn ước mơ đó có thành hiện thực không và thành tựu ở đâu là do mỗi người.

Cảm ơn Rio, chúc bạn luôn mạnh khoẻ, thành công.

Long Káp

Thông tin về Rio Lam (Quan Vi Lam)

Website: http://rio-lam.com

Xêm thêm: Nhận xét của Rio Lâm về nước Mỹ: Nước Mỹ qua góc nhìn của một cây bút trẻ
————–
10868108_10152862193186893_1005816875010752425_n
Chuyên mục Góc nhìn do Hoàng Khánh Hoà (University of Missouri-Columbia) phụ trách
Nếu bạn có những bình luận, so sánh, những góc nhìn về các vấn đề Văn hoá, giáo dục, xã hội ở Việt Nam, xin vui lòng gửi về chuyên mục Góc Nhìn của www.sinhvienusa.org

Chương trình học bổng báo chí Jefferson năm 2015

Chương trình học bổng Jefferson dành riêng cho ngành báo chí ( báo in, phát thanh, truyền hình) từ Mỹ, Châu Á và các đảo Thái Bình Dương. Ứng viên có cơ hội tham gia vào mạng lưới báo chí quốc tế thông qua một tuần học tập, nghiên cứu tại East-West Center, Honolulu, với hai tuần tham quan học tập trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và Hoa Kỳ.

Thời gian tham gia: ngày 02- 23/05/2015

Yêu cầu:

  • Nhà báo làm việc trong lĩnh vực báo in, báo điện tử, phát thanh hoặc truyền hình tại Hoa Kỳ, Châu Á và các đảo Thái Bình Dương.
  • Ít nhất năm năm kinh nghiệm trong lĩnh vực báo chí
  • Tiếng Anh lưu loát

Hạn cuối nộp hồ sơ: 27/01/2015

Những nước Châu Á được nhận tài trợ học bổng: danh sách

Tổng trị giá học bổng lên đến 9000 usd. Bao gồm:

  • Vé máy bay khứ hồi
  • Chi phí ăn ở
  • Phương tiện di chuyển trên mặt đất
  • Các hoạt động giao lưu văn hóa
  • Chi phí phiên dịch tại Trung Quốc và Philippines

Cách thức nộp đơn:

Tải và điền đầy đủ thông tin vào mẫu đơn tại đây ( Có thể chọn PDF hoặc MS Word dưới đây)

Jefferson Fellowships Application Form (PDF)

Jefferson Fellowships Application Form (MS Word)

Bạn có thể tải file tại đây để có thêm thông tin về chương trình.

Thông tin chi tiết về học bổng xem tại đây

 

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Hai mươi năm giá trị Fulbright

Ngày 17.1.2015, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP) sẽ chính thức đánh dấu mốc 20 năm hoạt động tại VN. FETP đã và sẽ tiếp tục mang lại cho giáo dục VN những giá trị nào? Báo Thanh Niên đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chương trình này.

Tiên phong cho những bước đổi mới

Thưa ông, đã có rất nhiều thông tin về quá trình thành lập của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright. Theo ông, giá trị quan trọng nhất cho sự ra đời này là gì?

Sau 20 năm nhìn lại, giá trị cốt lõi của FETP nằm ở sự đồng hành với các nỗ lực cải cách kinh tế ở nước ta. FETP ra đời đúng vào thời điểm VN chuẩn bị bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ và sắp gia nhập ASEAN. Nền kinh tế đang trong quá trinh chuyển đổi  từ kế hoạch hóa, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường (KTTT), đòi hỏi một hệ thống tri thức và công cụ quản lý kinh tế hoàn toàn mới. Nói cách khác, các nhà quản lý khi ấy vẫn còn rất bỡ ngỡ với KTTT.

Chính trong bối cảnh đó, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright được thành lập như một trung tâm đào tạo về kinh tế học ứng dụng, cung cấp kiến thức kinh tế thị trường cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách, nhằm hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang KTTT. FETP là một trong những trường đầu tiên đưa kiến thức KTTT vào VN một cách có hệ thống, tạo được sự gắn bó mật thiết giữa kinh tế VN và tri thức toàn cầu.

Trong 20 năm hoạt động của mình, theo ông đâu là những giá trị quan trọng mà FETP mang lại cho giáo dục VN, cho người học?

FETP luôn nỗ lực một cách có ý thức đi tiên phong trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế VN, đặc biệt là trước những bước tiến quan trọng. Ra đời từ năm 1995 nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo kiến thức KTTT, sau 13 năm, đến năm 2008, FETP quyết định mở ra chương trình thạc sỹ chính sách công.

Vì sao lại có sự chuyển đổi này? Vào năm 1995, khi nền kinh tế thị trường của nước ta còn manh nha, giá trị quan trọng nhất đến từ việc hiểu đúng cơ chế vận hành của KTTT. Được trang bị những tri thức này, các nhà quản lý kinh tế có thể sửa chữa những khiếm khuyết của hệ thống kinh tế cũ – giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, tôn trọng quyền tự do kinh doanh của người dân, mở cửa hội nhập với kinh tế toàn cầu – nhờ đó nền kinh tế khởi sắc.

Nhưng đến nửa cuối thập niên 2000, nền kinh tế của chúng ta đã trở nên phức tạp, năng động, và hội nhập hơn rất nhiều. Sự thiếu hụt kiến thức về thiết kế và phân tích chính sách trong các cơ quan quản lý kinh tế ngày càng bộc lộ rõ. Nói khác đi, năng lực điều hành và xây dựng chính sách phát triển bất cập so với sự phức tạp của nền kinh tế, và đây là một nguyên nhân quan trọng gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2007 – 2008 mà hệ quả còn kéo dài cho đến ngày hôm nay.

Trong bối cảnh này, FETP mong muốn đào tạo một lớp lãnh đạo, nhà kinh tế có đủ tri thức về chính sách công, nhờ đó ra chính sách hiệu quả hơn. FETP một lần nữa đi tiên phong trong ngành chính sách công. Khi đăng ký chuyên ngành đào tạo này, chính Bộ GD-ĐT cũng cho biết do chưa có mã ngành chính sách công nên phải đưa ra mã ngành mới. Việc có mã ngành mới này mở ra cơ hội cho một số trường khác xây dựng chương trình đào tạo chính sách công.

Hiện nay, FETP lại đang đứng trước một cơ hội, đồng thời là một thử thách lớn, đó là phát triển thành Trường ĐH Fulbright Việt Nam (FUV). Sự bất cập của nền giáo dục đại học Việt Nam là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế và xã hội VN. Lần này, FETP hy vọng đóng góp vào nỗ lực cải cách đại học ở Việt Nam bằng cách thử nghiệm một mô hình đại học truyền thống trên thế giới nhưng hoàn toàn mới ở VN, đó là ĐH tư thục không vì lợi nhuận.

Chúng tôi tin rằng dù thành công hay thất bại thì Trường ĐH Fulbright Việt Nam cũng sẽ cung cấp những kinh nghiệm và bài học quý báu cho các trường khác muốn đi theo con đường này. Kinh nghiệm của FUV cũng sẽ giúp Bộ GD-ĐT hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý cho loại hình đại học tư thục không vì lợi nhuận.

ĐH Fulbright Việt Nam và những phép thử

Ông vừa đề cập đến Trường ĐH Fulbright VN, một kỳ vọng mới của hệ thống giáo dục ngoài công lập tại VN. Trường này thành lập dựa trên nguyên tắc nào?

Một nguyên tắc xuyên suốt từ khi thành lập Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright cho đến sắp tới khi Trường ĐH Fulbright VN ra đời vẫn luôn là đề cao giá trị tri thức, đó là tôn trọng tự do học thuật và giá trị nghiên cứu. Ở các trường ĐH hàng đầu thế giới, giảng dạy và nghiên cứu luôn song hành, vì để giảng dạy tốt thì phải có nghiên cứu tốt. Đáng tiếc là ở đa số các trường ĐH tại VN hiện nay, nghiên cứu vẫn được đặt ở vị trí thứ yếu. Gần đây nhiều trường đã cố gắng sửa chữa khiếm khuyết này, nhưng năng lực và điều kiện nghiên cứu của các trường lại chưa đủ.

Muốn có nhà nghiên cứu xuất sắc, phải xây dựng được môi trường thích hợp. Môi trường đó phải trọng dụng nhân tài, không tuyển dụng dựa trên các tiêu chí phi học thuật. Môi trường đó phải tạo ra không gian rộng rãi để nhân tài thể hiện tài năng và tối đa hóa giá trị của mình. Đồng thời, để tạo ra giá trị cho xã hội, bên cạnh tri thức toàn cầu, các nhà nghiên cứu cũng cần có những hiểu biết sâu sắc về địa phương, và chỉ nhờ sự kết hợp này thì mới có thể “tiếp biến” tri thức toàn cầu để kiến tạo tri thức mới, có lợi cho nhà trường và cho đất nước.

Từ 20 năm qua, FETP vẫn luôn theo đuổi những giá trị này và trên thực tế, FETP là một “ốc đảo” với những điều kiện thuận lợi này. Những hiểu biết về xã hội, kinh tế và giáo dục VN cũng được chúng tôi tích lũy qua quá trình nghiên cứu, phân tích chính sách, thảo luận với Chính phủ. Vì vậy, đây là những thuận lợi để Trường ĐH Fulbright Việt Nam ra đời và phát triển theo con đường của những trường tiên tiến trên thế giới.

Như ông đã đề cập, một điểm rất mới của Trường ĐH Fulbright VN là hoạt động theo hình thức tư thục phi lợi nhuận. Mặc dù rất muốn, nhiều trường ĐH tại VN từ trước tới nay không thể thực hiện được điều này. Điểm khác biệt là ở đâu, thưa ông?

Trường ĐH Fulbright VN tuy là mô hình mới ở VN nhưng lại là mô hình tư thục không vì lợi nhuận quen thuộc ở các nước có nền giáo dục tiên tiến. Có 3 điểm chính, cũng là khác biệt với các trường VN mà FUV xác định trong cơ chế hoạt động của mình, bao gồm quản trị, tài chính và nhân sự.

Về quản trị, trường không có chủ sở hữu, không có cổ đông như các trường tư thục khác ở VN. Điều hành trường sẽ là Hội đồng trường (Board of Trustee). Hội đồng này sẽ thuê hiệu trưởng và ban giám hiệu để quản lý trường. Về nguyên tắc, trường là của xã hội, của cộng đồng. Mọi giá trị thặng dư (nếu có) sẽ được đầu tư trở lại cho trường chứ không chia cho bất kỳ đối tượng nào khác.

Tài chính của trường sẽ được tự chủ, do Quỹ tín thác sáng kiến ĐH VN (TUIV) quản lý. Tài chính được huy động chủ yếu từ ba nguồn: tài trợ ổn định hàng năm của Chính phủ Mỹ; tiền thiện nguyện, tài trợ của các tổ chức, cá nhân tại nước ngoài; và tài trợ, của tổ chức, cá nhân tại VN.

Về nhân sự, trọng dụng nhân tài là nguyên lý cốt lõi; quy trình tuyển dụng, đề bạt dựa trên tài năng chứ không dựa trên những tiêu chuẩn phi học thuật.

Theo tôi, đây là những phép thử cho giáo dục VN. Như hiểu biết của chúng tôi, hiện nay chưa có một trường ĐH nào tại VN thành lập và phát triển dựa vào nguồn vốn thiện nguyện, hiến tặng như vậy. Nó sẽ là phép thử chứng tỏ sự quan tâm của doanh nghiệp, cá nhân ở VN đối với giáo dục như thế nào? Sẽ có nhiều người ủng hộ, hiến tặng kinh phí cho Trường ĐH Fulbright hoạt động hay không?

Cách quản trị mới, tuyển dụng nhân sự trong trường đại học mới cũng sẽ là phép thử xem cách làm này có thể thành công tại VN hay không. Từ đó, các trường khác có thể học hỏi áp dụng mô hình quản trị này.

Mọi người kỳ vọng vào sự ra đời của Trường ĐH Fulbright VN. Còn bản thân trường thì kỳ vọng vào điều gì, thưa ông?

Như đã nói ở trên, FUV kỳ vọng sẽ đóng góp một cách thiết thực cho nỗ lực cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam bằng cách thử nghiệm mô hình mới và tạo ra giá trị giáo dục đích thực. Để làm điều này, chúng tôi dự kiến sẽ phát triển trường theo từng bước một cách thận trọng. Ban đầu, trường sẽ chỉ đào tạo thạc sĩ và phát triển với quy mô vừa phải. Sau đó, trường mới đào tạo cử nhân và tiến sĩ.

Chúng tôi kỳ vọng nhất là về chất lượng. Trường sẽ là nơi đáp ứng nhân lực từ chất lượng cao cho xã hội. Ban đầu, các chuyên ngành đào tạo sẽ là chính sách công, luật, kinh tế học, tài chính, quản trị… Sau đó, chúng tôi sẽ từng bước chuyển sang đào tạo các ngành khoa học, kỹ thuật, môi trường và biến đổi khí hậu… Ngoài một số ngành là thế mạnh sẵn có, trường sẽ chú trọng phát triển những ngành học giúp tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững tại VN. Chúng tôi muốn góp một phần giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động trình độ cao, vốn là một trong những nút thắt tăng trưởng quan trọng ở VN.

Một mô hình mới như vậy, chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn trong quá trình thành lập. Ông có thể chia sẻ về điều này hay không?

Dự án Trường ĐH Fulbright VN được bắt đầu từ năm 2011, khi còn chưa có khuôn khổ pháp lý cho loại hình ĐH tư thục không vì lợi nhuận. Ngay cả nghị định hướng dẫn cũng như Điều lệ trường ĐH ra đời thời gian vừa qua vẫn còn chung chung và vướng mắc một số điểm. Chẳng hạn, chưa quy định việc miễn thuế thu nhập cho các tổ chức, cá nhân hiến tặng tài sản cho các trường ĐH không vì lợi nhuận.

Một khó khăn rõ ràng khác trong khi các trường tư thục tại VN có cổ đông đầu tư, còn các trường công lập thì có thể dựa vào nguồn ngân sách, đất đai … của Nhà nước, còn Trường ĐH Fulbright VN chủ yếu chỉ dựa vào nguồn tiền thiện nguyện để phát triển.

Việt Nam và “lựa chọn thành công”

Nghe ông chia sẻ về Trường ĐH Fulbright VN, có vẻ như tâm tư về giáo dục VN ở ông có rất nhiều?

Không chỉ có tôi mà tất cả những người làm ở Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đều luôn có ý thức nghiên cứu để phân tích, góp ý cho giáo dục VN. Những bước đi của FETP đồng thời cũng là những bước tiên phong trong giáo dục đại học.

Đầu năm 2008, chúng tôi có xuất bản một phân tích có tựa đề “Lựa chọn thành công”. Lập luận quan trọng nhất trong nghiên cứu này là VN nằm ở giao diện giữa hai khu vực Đông Bắc Á (rất thành công) và Đông Nam Á (thành công vừa phải), vậy nước ta  sẽ đi theo quỹ đạo nào? Các nước Đông Bắc Á đã thành công trong việc kiến tạo môi trường cho tài năng phát triển, từ đó đưa đất nước gia nhập hàng ngũ các nước phát triển. Trong khi đó, đa số các nước Đông Nam Á chưa làm được điều này. Việc VN có thể đi theo mô hình của các nước Đông Bắc Á hay không về cơ bản phụ thuộc vào sự lựa chọn của chính chúng ta. Trong sự lựa chọn này, lựa chọn về giáo dục là một trong những điểm quan trọng nhất.

Vậy để giáo dục VN thành công, theo ông điểm nào cần làm trong giai đoạn này?

Các trường ĐH của VN chủ yếu có tính địa phương, ít có sự giao lưu và tiếp biến toàn cầu. Để thành công cần đưa được những giá trị toàn cầu vào điều kiện cụ thể của VN. Nếu chỉ nô lệ vào các điều kiện bên ngoài hoặc luôn coi VN là ngoại lệ cá biệt thì tôi e rằng sẽ không thể thành công được.

Giá trị cốt lõi và là “xương sống” của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright cũng như Trường ĐH Fulbright Việt Nam sắp tới là góp phần đạo tạo những con người có năng lực tư duy, nhận thức, và tinh thần hội nhập toàn cầu, đồng thời áp dụng được những giá này vào xã hội VN. Giá trị cốt lõi này vẫn sẽ luôn được giữ vững trong con đường phát triển của FETP và sắp tới là FUV.

Xin cám ơn ông về buổi trò chuyên thú vị này.

Theo http://www.fetp.edu.vn/

Xem bài gốc tại đây

Thụy Sĩ sản xuất phiên bản đồng hồ Hoàng Sa, Trường Sa 

Phiên bản đồng hồ Thụy Sĩ đặc biệt Hoàng Sa và Trường Sa do chính hãng Candino sản xuất đã có mặt tại Việt Nam trong buổi giới thiệu ở khách sạn Sheraton (TP.HCM) sáng 17-1.

Chiếc đồng hồ Thụy Sĩ phiên bản đặc biệt Hoàng Sa, Trường Sa – Ảnh: Hữu Khoa

Phiên bản đồng hồ Hoàng Sa -Trường Sa được thiết kế rất đặc biệt, giản dị nhưng khá tinh tế. Trên mặt đồng hồ, ngay tại vị trí 12g là quốc kỳ Việt Nam đỏ tươi, thể hiện sự uy nghi, trường tồn của Tổ quốc và cũng là niềm tự hào dân tộc. Giữa tâm điểm của mặt số là dòng chữ “Hoang Sa & Truong Sa belong to Vietnam” (Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam). Trên mặt đáy của đồng hồ được hãng Candino sử dụng công nghệ khắc cao cấp, làm nổi lên hình dáng đất nước Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc một cách tinh xảo.

Ý tưởng về phiên bản đồng hồ mang tên của hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa đã nhen nhóm từ năm 2012 trong chàng doanh nhân sinh năm 1980 Bùi Tấn Minh.

Bùi Tấn Minh là giám đốc công ty xuất nhập khẩu Hải Minh, chuyên phân phối đồng hồ cao cấp thế giới tại Việt Nam. Anh cho biết: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Đó là thông điệp ngắn gọn nhưng dứt khoát mà mỗi người dân Việt Nam đều mong muốn được gửi tới bạn bè trên toàn thế giới không chỉ trên phương diện pháp lý. Nhất là trong bối cảnh đất nước hiện nay, khi mà tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc được đẩy lên cao trào. Mỗi tiếng nói đồng cảm của bạn bè quốc tế đều là món quà vô giá. Là người trẻ sinh ra và lớn lên sau khi đất nước đã hòa bình, chúng tôi trân trọng những gì cha ông đi trước để lại, luôn có khát khao muốn cống hiến cho đất nước.

Là một doanh nghiệp, chúng tôi càng hiểu giá trị lớn lao của biển đảo. Chính điều đó đã thôi thúc chúng tôi phải làm ra một sản phẩm nào đó khẳng định chủ quyền đất nước mình. Tôi và cộng sự đã đưa ra ý tưởng có một phiên bản đồng hồ gắn với chủ quyền biển đảo Tổ quốc”.

Anh Minh cho biết, để thuyết phục đối tác cho ra đời phiên bản đặc biệt này tốn khá nhiều thời gian.

“Chúng tôi may mắn là các bạn Thụy Sĩ rất quý mến người Việt. Hiểu và trân trọng sự chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, hãng Candino đã quyết định sát cánh cùng chúng tôi thực hiện sản xuất phiên bản đặc biệt này. Những người bạn Thụy Sĩ muốn nhấn mạnh tinh thần ủng hộ Việt Nam trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ bằng tất cả những gì họ có, từ kỹ thuật, công nghệ và trên tất cả là tấm lòng của người bạn đến từ phương xa ”, anh Minh cho hay.

Gần 30 mẫu thiết kế phác thảo đã được nhóm đưa ra và cuối cùng chọn mẫu như hiện tại để làm việc với đối tác. Anh Bùi Tấn Minh nói: “Chúng tôi chọn mẫu này vì đơn giản nhưng thông điệp thể hiện rõ ràng, không cần phô trương về việc khẳng định chủ quyền”.

Sau gần hai năm kể từ lúc có ý tưởng, tháng 1-2015, phiên bản đồng hồ đặc biệt này đã về đến Việt Nam. Đó là sản phẩm thể hiện tâm huyết, tấm lòng, tình yêu Tổ quốc và sự quan tâm những vấn đề nóng của Tổ quốc từ những người trẻ.

Hãng Candino sản xuất 1.888 phiên bản đồng hồ đặc biệt này, trong đó 1.500 chiếc (từ số 389 đến 1.888) dành cho nam và 388 chiếc dành cho nữ (từ số 1 đến số 388).

Anh Bùi Tấn Minh giải thích: “Chúng tôi bàn với đối tác sản xuất đúng 1.888 chiếc vì năm 1888 là năm Đồng Khánh thứ 3, thời điểm hoàn thành mộc bản triều Nguyễn – bản khắc gỗ chính sử của nhà Nguyễn được biên soạn từ những năm đầu đời vua Gia Long. Và mộc bản này đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới và cũng là di sản vô giá của dân tộc Việt Nam. Bộ chính sử này ghi lại trung thực các hoạt động của những hùng binh triều Nguyễn tại Hoàng Sa, Trường Sa. Đó là bằng chứng quan trọng không thể chối cãi về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa”.

Được biết, trước đây công ty Hải Minh đã hai lần hợp tác với hãng Candino sản xuất phiên bản đồng hồ đặc biệt: cho ra đời 1.000 phiên bản đồng hồ chỉ dành riêng cho Việt Nam nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long Hà Nội và 40 năm kỷ niệm quan hệ ngoại giao Việt Nam – Thụy Sĩ (năm 2011).

Trên thế giới những phiên bản đồng hồ đặc biệt chỉ có một mẫu nhưng lần này, hãng Candino đã ưu ái cho Việt Nam, sản xuất cả một cặp dành cho nam và nữ.

Tại buổi ra mắt dòng sản phẩm đặc biệt này, công ty Hải Minh đã trao tặng 30 triệu đồng cho quỹ “Vì biển đảo quê hương, vì tuyến đầu Tổ quốc” cho đại diện Mặt trận Tổ quốc TP.HCM và 20 triệu đồng cho quỹ “Chung sức bảo vệ chủ quyền biển Đông” do Tuổi Trẻ phát động tháng 5-2014 khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển của Việt Nam.

Vị trí 12g  là quốc kỳ Việt Nam được cách điệu theo hình lá cờ đang bay – Ảnh: Hữu Khoa
Trên mặt đồng hồ có dòng chữ tiếng Anh “Hoang Sa & Truong Sa belong to Viet Nam” (Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam) – Ảnh: Hữu Khoa
Hình bản đồ Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được khắc nổi trên mặt đáy đồng hồ – Ảnh: Hữu Khoa
Chiếc đồng hồ nói lên sự thật Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam – Ảnh: Hữu Khoa
Ông Bùi Tuấn Minh – Giám đốc Công ty TNHH XNK Hải Minh (trái) trao 20 triệu đồng cho chương trình chung sức bảo vệ chủ quyền biển đông cho đại diện báo Tuổi Trẻ – Ảnh: Hữu Khoa

Theo MY LĂNG/báo Tuổi trẻ 

Du học Mỹ có được làm thêm không ạ?

Bạn Nghị Nguyễn hỏi: Em năm nay 25 tuổi, em đang muốn xin du học tại Mỹ. Anh chị có thể cho em biết sinh viên khi sang du học có được làm thêm không ạ? Em xin cảm ơn.

Bạn Phượng Đoàn trả lời:

Du học sinh Mỹ visa F1 hoặc J1 có thể đi làm 20 tiếng/1 tuần. Các công việc làm thêm ở Mỹ rất đa dạng, chia làm 2 loại: Việc làm ngoài trường: phục vụ trong nhà hàng, cắt cỏ, chùi bếp, đi giao báo: lương từ $5 đến $10/1 tiếng hoặc làm nail: $10/ tiếng (trung bình). Các công việc này sẽ do người quen giới thiệu, đăng trước cửa hàng hoặc tìm tại đây www.craiglist.org.

Việc làm trong trường: thường là những công việc như xếp sách, phục vụ quầy ăn uống trong trường, trợ giảng, … sẽ được trả từ $8-$13/ tiếng. Những công việc trong trường có thể bị đánh thuế, nhưng cuối năm bạn khai thuế và sẽ được hoàn lại khoản thuế này. Những công việc dạng này được đăng ở mục tuyển dụng của trường hoặc trên bảng tin của trường hoặc do giáo sư hoặc người quen giới thiệu.
Bạn có thể tham khảo tại: http://sfbay.craigslist.org

Phượng Đoàn
Đại diên công ty APUS, www.apusvietnam.com

——-

Các bạn có câu hỏi về cuộc sống tại Mỹ, du học Mỹ, đại học tại Mỹ… xin vui lòng gửi về cho chúng tôi tại sinhvienusa.org@gmail.com hoặc gửi tin nhắn vào facebook page: https://www.facebook.com/sinhvienusa

Cơ hội nhận khoản kinh phí tới 25000 USD cho dự án vì cộng đồng

Cơ hội dể du học sinh Mỹ đề xuất dự án, nhận khoản kinh phí hỗ trợ tới 25.000 USD. Mong các bạn du học sinh Mỹ cùng thiết kế những dự án có ý nghĩa cho cộng đồng để xin nguồn tài chính và thực hiện tại Việt Nam.

WELCOME TO THE 2015 AEIF COMPETITION!

BACKGROUND ON THE COMPETITION

The 2015 Alumni Engagement Innovation Fund provides the opportunity for you, the current and past participants of U.S. government-sponsored exchange programs, to compete to win up to $25,000 to support your innovative idea!

PHASE 1: PROJECT SUBMISSION AND TEAM BUILDING

Competing alumni have from February 3 to February 24, 2015 to submit their project proposal and to build a team of at least 5 current or former exchange participants. Note: U.S. citizens are not eligible to submit project proposals — U.S. citizens can be team members, but because awards are distributed through U.S. Embassies and activities must be carried out abroad, no U.S. citizen can serve as a team leader on any project.

FINALIST PROJECT SELECTION

From February 25 to March 10, 2015, Department of State staff will review all proposals and selected those that will move to the finalist phase of the competition.

PHASE 2: FINALIST PROJECTS COMPETITION AND VOTING

  • Finalist project proposals will be announced on March 10, 2015.
  • From March 10 to March 31, 2015, finalist teams will refine their proposals and International Exchange Alumni members may vote on their favorite projects.
  • Alumni votes count! Alumni votes will count as a “panelist in absentia” when the Department of State voting panel meets to select the winning projects.
  • A Department of State voting panel will review all finalist proposals and announce the winning projects on May 11.

PROJECT ELIGIBILITY

Projects must address issues under one of eight project categories:

  • Empowering Women and Girls
  • Social Inclusion of Vulnerable Populations
  • Entrepreneurship and Youth Employment
  • Access to Education
  • Climate Change and Environmental Protection
  • Global Health Awareness
  • Civic Participation
  • Conflict Resolution

Check out the International Exchange Alumni website for more informationhttps://alumni.state.gov/network-collaborate/competitions/aeif-2015