Cơ Hội Đến Hoa Kỳ Tham Gia Trường Học Mùa hè UNAOC – EF Summer School

Với mục tiêu tạo ra những thay đổi tích cực cho xã hội bằng việc bồi dưỡng những thanh niên ưu tú, tổ chức giáo dục EF Education First và Tổ chức liên minh các nền văn minh thế giới (Liên Hợp Quốc) đồng tổ chức Trường học Mùa hè UNAOC – EF Summer School.

UNAOC-EF Summer School nhắm tới mục tiêu:

  • Tạo cơ hội gặp gỡ, trao đổi và xây dựng kỹ năng giữa những người trẻ;
  • Tăng cường năng lực cho thanh niên để có thể tham dự vào công tác chuẩn bị và thực hiện các hành động chung;
  • Hỗ trợ thanh niên tăng tối đa ảnh hưởng của mình khi tham gia thay đổi xã hội;
  • Tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa những người có nền tảng văn hóa và tôn giáo khác nhau;
  • Xây dựng một mạng lưới cựu sinh viên và biến mạng lưới đó trở thành cơ sở vững chắc cho các hành động chung, giải quyết những thách thức toàn cầu.

 

Tiếp nối thành công của Trường học mùa hè 2013 và 2014, năm nay chương trình tiếp tục diễn ra với thông tin chi tiết như sau :

  • Thời gian chương trình: từ ngày 13 đến 20/6/2015
  • Hạn chót đăng ký: ngày 9/3/2015
  • Địa điểm: Tại trường quốc tế EF Education First tại Tarrytown, New York, Mỹ.
  • Chi phí: hoàn toàn được đài thọ bởi UNAOC và EF Education First

75 ứng viên xuất sắc nhất đến từ các quốc gia trên khắp thế giới sẽ được lựa chọn bởi một ủy ban bao gồm các thanh niên và cán bộ UNAOC và EF. Những thành viên này sẽ tham dự các buổi hội thảo, một buổi tham quan và thảo luận tại trụ sở Liên Hợp Quốc cũng như tham quan Thành phố New York.

Các ứng viên đăng ký ứng tuyển bằng cách truy cập website: http://bit.ly/UNAOC2015_YboxVN

Bạn có thể xem chi tiết tại đây.

Bài viết chấn động cư dân mạng của “bà chủ” Việt Nam 24 tuổi

Đây là bài viết của một giảng viên mới chỉ 24 tuổi đang được chia sẻ rất nhiều trên cộng đồng mạng.

Tuổi trẻ không chỉ có nghĩa là trẻ tuổi, mà còn có nghĩa là năm tháng tươi đẹp nhất cuộc đời.

Ở cái tuổi ấy, trong ba thứ: sức khỏe, thời gian và tiền bạc, chúng ta chỉ thiếu tiền thôi, còn thời gian và sức khỏe thì luôn đong đầy.

Năm tháng qua đi khi về già ta sẽ nhận thấy tiền bạc hóa ra là thứ ít quan trọng nhất trong ba thứ trên. Nghĩa là tuổi trẻ là giai đoạn quý giá nhất đời người vì sỡ hữu trọn vẹn hai món quà lớn nhất của cuộc sống là sức khỏe và thời gian.

Ta vốn được nghe nhiều người nói đến điều này rồi, nhưng hỡi ôi, sao chúng ta vẫn đang để cho tuổi trẻ của mình trôi qua một cách hời hợt và vô nghĩa đến thế?

Với trí óc hạn hẹp được định hướng, phần lớn tuổi trẻ hiện tại của chúng ta vẫn cho rằng tiền bạc, hơn hết, mới là thứ quan trọng nhất, cần thiết nhất là đáng lưu tâm nhất.

Và rồi ta vô tình lãng quên hai món quà quý giá nhất đời, thời gian và sức khỏe. Thật ngu ngốc, thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương làm sao.

Tại sao lại như thế? Tuổi trẻ của chúng ta dường như đang ngủ quá say và quá lâu không chịu thức dậy để tận dụng hai món quà quý giá nhất? Đó là lãng phí, là ngu ngốc, hay cả hai?

Trong bài viết trước tôi có gợi một nguyên nhân nho nhỏ, chính xác hơn là một sự đổ lỗi, cho các bậc phụ huynh, rằng chính họ là nguyên nhân góp phần tạo nên sự thụ động, ù lì nơi thế hệ trẻ, làm mất đi khả năng tự lập của chúng ta bằng thứ tình yêu bao la vô bờ bến.

Thật ra, thoạt nghe thì những điều đó có vẻ hợp lý, nhưng dù hợp lý đến thế nào cũng vẫn không đủ, không đủ vì đó là chỉ cách để đổ lỗi, để biện minh mà thôi.

Tuổi trẻ của chúng ta chỉ nên nhìn nhận nguyên do đó cho biết để mà tương lai bớt bao bọc con cái mình như thế. Còn thứ chúng ta thật sự cần, không phải là đổ lỗi, tất nhiên, cũng không phải là ngậm ngùi bực tức rồi để đó.

Thứ mà thế hệ trẻ thật sự cần, là hành động, hành động để đập tan những gì ta chưa hài lòng, hành động để xây dựng nên một thế giới tốt đẹp hơn, cho mọi người hay đơn giản là cho chính mình.

Điều này thật sự không khó, nhưng sao mọi người cứ tránh né và nêu hoài những lý do cũ rích mốc meo? Phải chăng lại tại vì ta đã ngủ quá lâu để có thể sẵn sàng thức dậy?

Một giảng viên của tôi từng nói “Thật ngạc nhiên khi quá nhiều người sống như thể họ có một cuộc đời khác đang cất trong ngăn tủ vậy”.

Câu này nếu viết cho tuổi trẻ có thể thành “Thật ngạc nhiên khi quá nhiều bạn trẻ sống như thể họ còn có một tuổi trẻ khác cất trong ngăn bàn”.

Bạn biết đấy, đồ ăn để lâu không ăn sẽ bị hư, quần áo để lâu không xài sẽ bị lỗi mốt, đồ điện lâu không xài có thể bị chập điện.

Riêng tuổi trẻ, nếu bạn cứ để đó mà không xài, không tận dụng, tôi e là nó sẽ không hư, không lỗi mốt, không chập điện nhưng nó sẽ biến mất mãi mãi, không một dấu vết và rồi cả phần đời còn lại bạn sẽ phải sống trong nuối tiếc ngập tràn mà thôi.

Viễn cảnh đó, thật tôi không dám tưởng tượng thêm nữa.

“Hai mươi năm sau lúc này, bạn sẽ thấy thất vọng vì những điều mình không làm hơn vì những điều mình đã làm. Vậy nên hãy tháo nút dây. Hãy cho thuyền rời khỏi bến cảng an toàn. Hãy căng buồm đón gió. Tìm tòi. Ước mơ. Khám phá.”

— Mark Twain

Tạm thôi không so sánh về tuổi trẻ Việt Nam và thế giới. Bỏ qua luôn không nhắc đến khả năng tự lập, tư duy, chính kiến, sáng tạo, mối quan tâm và thành tựu của tuổi trẻ Việt Nam và thế giới.

Tự bản thân mỗi người trẻ đều có thể hiểu và đánh giá.

Vậy thì, chắc chắn sẽ có người hỏi, câu hỏi muôn đời: thế thì phải làm sao? Tuổi trẻ phải làm gì để thay đổi, để khác biệt, để mang lại ý nghĩa đúng với trọng trách nó được giao phó?

Câu trả lời đơn giản làm sao, hãy tận dụng tốt nhất hai món quà lớn mà cuộc sống dành riêng cho tuổi trẻ chúng ta: Thời gian và sức khỏe.

Hãy dùng nó để nhào vào đời, để quyện vào cuộc sống, để trải nghiệm mọi thứ khi còn có thể.

Vâng, là trải nghiệm. Đó chính là điều quan trọng nhất tôi muốn nói đến ngày hôm nay. Đó là điều tối cần thiết tạo nên một thế hệ trẻ khác biệt.

Đó cũng là điều tuyệt vời nhất mà mọi người đều có thể làm dù đang ở vạch xuất phát nào trong cuộc sống.

Dù bạn giàu hay nghèo, công việc tốt hay không tốt, bạn đẹp hay xấu, bạn cá tính hay mực tính… bất kể bạn thế nào, bạn đều có thể bắt đầu trải nghiệm cuộc sống này, biến nó trở nên ý nghĩa, và chính nó sẽ khiến bạn trở nên khác biệt hơn bao giờ hết.

Bởi vì, bạn có thể không tin, nhưng tuổi trẻ mà không có trải nghiệm, là tuổi trẻ vứt đi. Giống như một cuốn sách không có nội dung, một bài hát không có giai điệu, một khu rừng không có chim thú cỏ cây, một đời người không có tuổi trẻ…

Tất cả đều rất vô nghĩa.

Chính trải nghiệm, chứ không phải thứ gì khác, là thứ làm nên con người bạn. Tôi đang nói con người thật sự bên trong bạn ấy, không phải gia cảnh, xuất thân, đồ trang trí trên người, bằng cấp học vị hay gì cả.

Con người thật sự của bạn, muốn biết nó như thế nào, muốn tìm kiếm nó, thật không cách gì ngoài việc bạn  phải bước vào đời, trải nghiệm, trộn bản thân mình vào cuộc sống, rồi cảm nhận, rồi đúc kết và rồi cuối cùng là phát huy hết sức những gì mình đã học được trong quá trình đó.

Giá trị của những trải nghiệm chính là giá trị con người bạn

Tôi hay nhắc đi nhắc lại câu nói này trong các bài viết của mình như một sự tâm niệm, hi vọng các bạn cũng có thể học được gì đó từ chúng.

Câu nói về giá trị bản thân trong sách 7 thói quen “Nếu như tôi có những thứ giúp chứng minh tôi là ai, thì khi những thứ đó mất đi, tôi là ai?”.

Chúng ta thường hay tìm kiếm những thứ bên ngoài để chứng minh bản thân mình, quần áo, điện thoại, hàng hiệu, xe cộ, nhà cửa, công việc, gia thế…

Tất cả những thứ này là những vật chứng hoàn hảo nói về một con người ở thì hiện tại này. Nhưng tất cả chúng, lại là những thứ có thể mất đi.

Bạn dùng chúng để chứng tỏ mình, bạn có dám đảm bảo chúng sẽ tồn tại mãi mãi không? Một công việc tốt, một tình yêu đẹp, một gia đình hạnh phúc, một căn nhà tiện nghi… Tất cả chúng đều có thể biến mất.

Và khi đó, bạn là ai? Đấy là vấn đề của vật chất. Còn riêng với trải nghiệm ư, hãy yên tâm rằng chúng là của bạn, luôn là của bạn,  mãi mãi là của bạn, bên trong bạn, chúng sẽ không bao giờ mất đi.

Hãy dùng những trải nghiệm để chứng tỏ giá trị bản thân và rồi bạn sẽ nhận ra bản thân mình thật đặc biệt và quý giá, hơn hết mọi những vật phẩm trang trí bên ngoài.

Hãy luôn tâm niệm rằng, cuộc sống, thực chất là một cuộc trải nghiệm lớn, mà trong đó bạn phải đi tìm những mảnh ghép là những trải nghiệm nhỏ để từ đó ghép nên cuộc đời mình.

Khi tâm niệm cuộc đời chỉ là cuộc trải nghiệm, bạn sẽ không quá áp lực nên mọi sự lựa chọn của mình trong cuộc đời.

Đó là cuộc chơi, không ai thắng và cũng không ai thua cả, vì suy cho cùng, ai rồi cũng đến lúc phải giã từ cuộc sống, nhưng người may mắn hơn, là người sống được nhiều hơn những người khác, sống nhiều hơn, không có nghĩa là sống lâu hơn nhưng là sống được nhiều khoảnh khắc hơn trong đời, như Jean Jacques Rousseau nói:

“Người sống nhiều nhất không phải người sống lâu năm nhất mà là người có nhiều trải nghiệm phong phú nhất.”

Mục tiêu của thế hệ trẻ, có lẽ nên thay đổi ngay việc sống sung sướng hơn, sống tốt hơn, sống lâu hơn, thành “sống nhiều hơn”, thế là đủ.

Nhưng làm thế nào để sống nhiều hơn?

Cách duy nhất là hãy biến từng phút giây có thể đều trở nên ý nghĩa và giải pháp là hãy không ngừng đặt bản thân vào tâm thế sẵn sàng trải nghiệm mọi thứ xảy ra xung quanh mình, đừng ngại ngùng, đừng lười biếng, đừng sợ hãi.

Còn làm thế nào để trải nghiệm cuộc sống ư? Hãy thay suy nghĩ bằng hành động, thay lời nói bằng hành động, thay kế hoạch bằng hành động, hành động ngay đi thôi.

Hãy ngưng nói mà làm, ngưng suy tính quá kĩ càng, ngưng nghi ngờ và sợ hãi. Như Steve Job nói câu nổi tiếng nhất “Hãy cứ khát khao, hãy cứ dại khờ”.

Henry David Thoreau nói: “Những người trẻ tuổi học sống thế nào nếu không phải là ngay lập tức thử trải nghiệm cuộc sống?” Tôi thì sẽ nói lại “Khi ta muốn ta sẽ tìm cách, khi không muốn, ta tìm lý do.”

Nếu bạn không phải là một cái cây, lý gì bạn phải ở yên một chỗ?

Nếu muốn trải nghiệm, việc bạn cần làm là phải không ngừng hành động, không ngừng đặt bản thân vào thế chủ động và thế sẵn sàng, đi những vùng đất mới, thử những cái mới, làm những điều mới, học những thứ mới, quen những người bạn mới.

Phải thoát ra khỏi vùng an toàn của mình càng sớm càng tốt. Đừng nói bạn không thể vì chắc chắn bạn có thể, lý do là vì tôi biết bạn không phải một cái cây.

Cái cây đứng một chỗ nhận tất cả những gì nó cần: ánh sáng, nước, chất dinh dưỡng nhưng bản thân nó vẫn luôn khao khát được vươn ra xa hơn.

Thế nên rễ nó mới dài tủa đi khắp nơi, thế nên tán nó mới vươn rộng và cành không ngừng vươn cao để nhìn được những vùng đất xa lạ.

Bạn may mắn hơn cái cây, bạn có thể tự dịch chuyển mình đi khắp chốn, thế thì tại sao lại không?

Thoát khỏi vùng an toàn của mình là bước đầu tiên trong quá trình trải nghiệm. Mọi hành trình đều bắt đầu từ một bước chân.

Ngay ngày mai, hãy thử làm những việc bạn chưa từng làm, dù nhỏ bé và đơn giản nhất thôi: hãy cười với một người lạ cùng tòa nhà, hãy đi một con đường khác tới công ty, hãy gọi một món ăn nghe tên thật lạ, hãy nghĩ một cách giải quyết khác cho công việc quen thuộc hàng ngày…

Những thứ nhỏ bé này có thể đem đến cho bạn nhiều nguồn cảm hứng để bắt đầu những trải nghiệm khác to lớn hơn, bắt đầu hành trình lắp ghép cuộc đời mình bằng những điều mới mẻ và thú vị.

Cái giá của trải nghiệm là gì?

Cái gì trên đời cũng có giá cả, chỉ cần bạn trả đúng giá, bạn có thể mua được mọi thứ. Và tiền là cái giá rẻ nhất nếu muốn có gì đó.

Còn trải nghiệm ư. Nếu bạn muốn có nó, tất nhiên không ngoại lệ, bạn cũng phải trả giá.

Cái giá của trải nghiệm là ban đầu bạn sẽ cảm thấy sợ hãi, lo lắng, bất an, hoài nghi và rất nhiều cảm xúc tiêu cực khác nữa.

Nhưng tin vui đó chỉ là những cảm xúc ban đầu thoáng qua mà thôi. Khi đã quen với nó thì mọi cảm xúc đó đều tan biến hẳn, thay vào đó sẽ là sự hào hứng, thích thú, tò mò, vui sướng lẫn hài lòng.

Một cái giá khác nữa của trải nghiệm, đó là bạn có thể mất đi một số thứ cũ kĩ quen thuộc, nhưng đừng lo, chắc chắn bạn sẽ lại nhận thêm rất nhiều thứ khác tuyệt vời hơn.

Như câu “Đừng e ngại sự thay đổi, bạn có thể mất đi một số thứ, nhưng bạn sẽ lại nhận lại những thứ khác tuyệt vời hơn!

Cái giá của trải nghiệm, là bạn sẽ phải đưa bản thân vào tâm thế sống cho chính mình, chứ không vì dư luận, vì xã hội, hay vì gia đình… không vì một cái gì hết.

Chính vì thế bạn sẽ có thể bị người ta dèm pha, chê cười hay thậm chí là bị chửi mắng là ngu ngốc nữa. Và đôi khi, bạn cũng nghĩ là mình… ngu thật.

Nhưng này, đây chính là phần thưởng lớn dành cho bạn.

Yêu đời, yêu cuộc sống

Người trải nghiệm nhiều sẽ có cái nhìn về đời, về cuộc sống toàn diện và thông thoáng hơn.

Họ thường nhìn ra được những thứ thật sự quan trọng với bản thân để rồi tập trung vào đó, hơn là việc phí công sức vào những thứ vô bổ phù phiếm hàng ngày.

Đi đi, trải nghiệm đi, để thấy những mảnh đời bất hạnh, để nhận ra bản thân mình dù gặp nhiều rắc rối nhưng vẫn còn hạnh phúc và may mắn bao nhiêu.

Những người đi nhiều trải nhiều gặp nhiều việc sẽ có cái nhìn tổng quát và bao dung hơn. Họ có xu hướng trân quý cuộc sống hơn và dễ dàng hòa nhập hơn vào mọi hoàn cảnh trên đời.

Đó chính là phần thưởng. Cứ mỗi khi trải qua một chuyện ta lại thấy mình lớn hơn, già hơn, thấy cuộc đời đáng sống hơn rất nhiều.

Trải nghiệm giúp ta tìm ra kẻ mang tên “chính mình”

Hàng ngày chúng ta cứ nghe ra rả bên tai và đọc được hàng ngàn thông điệp kiểu “hãy là chính mình, hãy tìm chính mình” nhưng khoan, hãy là chính mình bằng cách nào khi ta còn đang phải mải mê tìm kiếm chính mình là gì?

Thật ra chỉ có một cách thôi, một câu trả lời cho tất cả, đó là hãy trải nghiệm đi, trải nghiệm mọi điều trong cuộc sống. Chỉ có trong trải nghiệm, trong những hoàn cảnh cụ thể bạn mới biết mình là người như thế nào.

Chỉ có trong trải nghiệm bạn mới tìm ra được chính mình. Trải nghiệm sẽ cho bạn biết bạn là người can đảm hay sợ sệt.

Trải nghiệm sẽ cho bạn biết bạn là người giữ lời hay là kẻ thất hứa, là người trọng tình cảm hay luôn bị lý trí lấn át.

Chỉ trong trải nghiệm bạn mới biết được khả năng sinh tồn, khả năng xoay chuyển tình huống và khả năng đối phó với những khó khăn.

Chính những nét tính cách đó là con người bạn. Làm sao bạn có thể tìm ra nó, tìm ra chính mình khi không trải qua những hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống?

Người thầy vĩ đại

Trải nghiệm sẽ là thầy dạy tốt nhất cho bạn trong cuộc đời mà không bất cứ người thầy nào khác có thể dạy tốt hơn. Kinh nghiệm từ đâu ra nếu không từ trải nghiệm?

Chúng ta đương nhiên có thể học hỏi từ những kinh nghiệm của người khác, nhưng thôi nào, chẳng mấy ai chịu học từ bài học của người khác cả.

Tôi có rất nhiều ví dụ thực tế chứng minh nhận định này, một trong số chúng là khi các bạn tôi đến hỏi kinh nghiệm mở shop thời trang hoặc quán cafe.

Đương nhiên tôi luôn chỉ họ mọi điều, kể cả những kinh nghiệm đau thương của mình, nhưng rồi sao? Họ ờ à và rồi sau đó họ lờ nó đi và mắc những lỗi i chang tôi đã cảnh báo.

Nhiều đến mức tôi chẳng thấy lạ hay buồn lòng gì nữa cả. Người ta thực sự chỉ học được từ chính trải nghiệm của bản thân.

Một người mới bắt đầu kinh doanh sẽ không thể biết tại sao vốn dự phòng lại quan trọng. Một người không bao giờ đọc sách sẽ chẳng hiểu nổi tại sao người ta phải đọc sách.

Một người chưa đi du lịch bụi bao giờ sẽ không biết tại sao người ta phải mang theo mình thứ này thứ nọ như vài viên thuốc tây, chai nước lọc hay ít đồ ăn khô…

Thật sự là như thế, bạn chỉ có thể học hỏi được nhiểu khi và chỉ khi chính bạn phải trải nghiệm cuộc sống trong từng hoàn cảnh xảy đến mà thôi.

Trải nghiệm đơn giản là hãy nhào ra ngoài đời, nhào vào cuộc sống, không sợ thử những điều mới lạ, những thử thách và cơ hội với tâm thế của người học hỏi mọi thứ, nhưng cũng đừng quên ước chừng trước những gì bạn có thể mất, hay cái giá bạn phải trả để có những trải nghiệm đó.

Tham gia một tổ chức đa cấp, đó là trải nghiệm. Làm thêm gia sư, phục vụ, lễ tân… đó là trải nghiệm. Tham gia một câu lạc bộ, những hoạt động xã hội, thử sức kinh doanh bất kì lĩnh vực nào, đó là trải nghiệm.

Thử học những điều mới, làm quen bạn bè mới… đó là trải nghiệm. Đi đây đi đó, đi phượt, đi du lịch bụi… đi chính là kiểu trải nghiệm mạnh mẽ nhất.

Làm những việc mình chưa làm bao giờ, đó là trải nghiệm

Trên thế giới đã từng có một cuộc khảo sát về những điều người ta thường nuối tiếc trước khi chết.

Và một trong số những điều người ta nuối tiếc nhất, đó là mọi người tiếc rằng mình đã sống quá an toàn, đã không trải nghiệm nhiều hơn, trải nghiệm nhiều hơn nữa.

Còn tiếc hơn khi chúng ta, những người còn sống, biết được điều đó nhưng lại cứ thế cho qua, cứ thế tiếp tục sống một cuộc sống an toàn, bình lặng, cứ thế sống hết kiếp người rồi sau cùng nhìn lại lại ước gì, lại giá như lại hối tiếc.

Ta không thể đánh mất những gì ta từng tận hưởng. Tất cả những gì ta yêu sâu sắc trở thành một phần trong ta.

– Helen Keller

Món quà vô giá

Tiền là có giá, con người hiện tại luôn dùng tiền để định giá mọi thứ. Thời gian, xét về mặt nào đó, cũng có giá, người ta có thể bỏ tiền ra mua thời gian của bạn.

Chúng ta hay nói sức khỏe là vô giá, nhưng rõ ràng người nhiều tiền có điều kiện vẫn có thể mua được những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn, kéo dài hơn thời gian sống trên đời.

Còn trải nghiệm ư? Không một ai có thể trả bất cứ gì để mua trải nghiệm của bạn cả. Trải nghiệm của bạn là của bạn, của riêng bạn, nó vĩnh viễn không bao giờ thuộc về ai nữa cả.

Nó không thể bị mất đi, không thể bị cướp, không thể mua bán được, nó là vĩnh viễn và thuộc về duy nhất người trải qua nó.

Đó chính là điểm đặc biệt của việc trải nghiệm. Chỉ qua trải nghiệm, người ta mới trân trọng những đau thương và nhắc về nó với lòng tự hào tha thiết.

Chỉ qua những trải nghiệm, con người ta mới lớn dần lên, tâm trí rộng mở đón chào mọi điều xảy đến trong đời.

Chỉ qua những trải nghiệm ta mới định nghĩa được bản thân một cách chính xác, sâu sắc và rõ nét.

Chỉ qua những trải nghiệm, ta mới sống được nhiều hơn, ta sẽ hơn được nhiều người vì chính điều đó, ta trải nghiệm nhiều hơn, ta yêu cuộc sống hơn, hiểu về nó và rất nhiều khi sẽ khiến những người khác ghen tỵ.

Ngập tràn cơ hội

Mỗi khi trải qua một điều gì mới mẻ, đến một nơi ở mới, làm quen những người bạn mới… chắc chắn bạn sẽ nảy ra vô vàn ý tưởng hay ho cho cuộc đời sau này.

Những ý tưởng kinh doanh thành công đôi khi cũng chỉ bắt đầu từ những trải nghiệm thực tế. Một người đi làm thêm chẳng mấy chốc học đủ nghề và ra mở cửa hàng riêng.

Một người đi du lịch vì quá nghiền món này món nọ mà cho ra đời những quán ăn địa phương trên những vùng đất khác.

Một lần trải nghiệm làm người lãnh đạo một nhóm thuyết trình có thể khiến ai đó nhận ra tài năng lãnh đạo của mình.

Việc gặp gỡ những người bạn trên đường trải nghiệm giúp ta hình thành một mạng lưới những người bạn ít gặp nhưng rất thân…

Càng trải nghiệm nhiều bao nhiêu bạn lại càng thu lượm được nhiều ý tưởng và cơ hội bấy nhiêu để phát triển cuộc đời riêng của mình.

Trải nghiệm làm nên con người, trải nghiệm làm nên cuộc đời

Trên thế giới đã từng có một cuộc khảo sát về những điều người ta thường nuối tiếc trước khi chết.

Và một trong số những điều người ta nuối tiếc nhất, đó là mọi người tiếc rằng mình đã sống quá an toàn, đã không trải nghiệm nhiều hơn, trải nghiệm nhiều hơn nữa.

Còn tiếc hơn khi chúng ta, những người còn sống, biết được điều đó nhưng lại cứ thế cho qua, cứ thế tiếp tục sống một cuộc sống an toàn, bình lặng, cứ thế sống hết kiếp người rồi sau cùng nhìn lại lại ước gì, lại giá như lại hối tiếc.

Chúng ta thường được nghe những lời kêu gọi như “hãy khác biệt, hãy sống hết mình, sống là không chờ đợi, hãy cứ dại khờ…” nhưng áp dụng cụ thể những lời khuyên đó như thế nào thì dường như lại chẳng mấy ai biết và cũng thật khó khăn vô cùng.

Tôi là một kẻ lắm điều và lắm lời, nhìn độ dài các bài viết của tôi thì biết.

Tôi khuyên mọi người đủ thứ, đủ việc, tôi làm mọi cách, dùng mọi lời để khiến mọi người làm những gì tôi đã làm: viết sổ tay, đặt mục tiêu, lên kế hoạch, kiểm soát cảm xúc, tạo thói quen tích cực, quan tâm mọi người, đọc sách, tập thể dục thể thao, bớt mua sắm và thậm chí là tặng quà miễn phí, viết thư tay cho nhau nữa.

Cũng chẳng hiểu tại sao tôi lại bao đồng thế, nhiều người sẽ cho rằng sao phải đi khuyên mọi người làm vậy làm gì, sống tốt thì cứ sống tốt đi, ai cũng có cuộc đời riêng cần phải lo, đâu ai giống ai đâu mà phải khuyên, khuyên rồi cũng chẳng mấy ai làm theo thì khuyên làm gì…

Ờ, nghĩ cũng đúng, tôi cũng không chắc có ai làm theo những điều tôi nói không, có ai vì đọc những lời viết đó mà muốn thay đổi, mà tự giác thay đổi, mà hành động không.

Tôi không biết, nhưng có một điều tôi biết chắc chắn, những lời khuyên của tôi là không vô nghĩa, không giáo điều.

Tôi không viết suông, viết láo, tôi chỉ viết những gì mình trải nghiệm, những gì mình đã làm, đã thực hành và thấy hiệu quả, thấy tác dụng tích cực thì mới khuyên.

Và nhất là, đó là những việc hết sức bình thường, hết sức nhỏ bé mà ai cũng có thể làm được cả. Những việc nhỏ nhưng giá trị thì rất to.

Nếu như có một điều khiến tôi tự hào vào cuộc sống của mình, đó nhất định là tôi không sợ chết. Tôi không thích chết, nhưng tôi cũng không sợ nó.

Tôi không muốn chết vì tôi còn quá nhiều dự định và kế hoạch muốn thực hiện. Vì tôi nhận ra cuộc đời thật quá đẹp tươi, quá thú vị và lôi cuốn.

Vì còn quá nhiều thứ tôi chưa được trải qua, chưa được khám phá nên nếu vì lý do gì đó mà chết đi, hẳn tôi sẽ tiếc lắm. Nhưng mà tôi lại không sợ chết chút nào? Tại sao?

Tại vì tôi hài lòng với cuộc sống hiện tại, với những gì mình đã làm và đang làm.

Dù nhiều chuyện không như ý muốn, dù đôi khi cuộc sống này làm tôi phát điên, nhưng tôi vẫn không hối hận những tháng ngày đã sống trên đời.

Nên hôm nay, tôi lại mạo muội xin được đưa ra một lời khuyên nữa, một lời khuyên mà tôi đã dùng những năm tháng qua để thực hành và chứng minh.

Một lời khuyên có thể giúp bạn cũng như tôi, sẽ không hối hận, sẽ không tiếc nuối và nhất là sẽ không sợ chết nữa, không sợ lúc về nhà lại nằm một chỗ ao ước giá như.

Một lời khuyên ngắn gọn thôi: Sống, hãy trải nghiệm, trải nghiệm nhiều hơn, nhiều hơn nữa…

Bạn đã đọc bài “ Thế giới khác rất tuyệt thời sinh viên ” rồi chứ.

Trong đó tôi có nói rõ rằng mình không phải một sinh viên giỏi, càng không thích môi trường đại học chút nào, nhưng để đánh đổi bất cứ gì để lấy khoảng thời gian làm sinh viên, tôi sẽ không đổi.

Đơn giản vì đó là một khoảng thời gian tuyệt vời, tôi được trải nghiệm rất nhiều điều mới lạ, chính vì thế khoảng thời gian sinh viên trở thành khoảng thời gian tươi đẹp, ý nghĩa và đáng giá.

Cuộc sống hiện tại của tôi cũng vậy, khi đặt bản thân vào tâm thế trải nghiệm cuộc đời, mỗi ngày xảy đến với tôi đều thật tươi vui và mới mẻ.

Ngày xưa tôi đi được mấy nơi và tưởng rằng mình đi được nhiều lắm. Ngày nay tôi đi được nhiều hơn xưa rất nhiều nhưng lại cảm thấy mình đi quá ít so với những người bạn tôi quen.

Những người bạn tôi, bất cứ ai mà trải nghiệm cuộc sống nhiều hơn tôi, thú vị hơn tôi, tôi đều rất ghen tỵ với họ.

Tôi thèm cái cảm giác được homestay trong nhà một người thiểu số của họ, tôi thèm được xách mũ bảo hiểm vừa đi vừa quá giang mọi người, tôi thèm được tự đi phượt khắp trời Âu, tôi thèm đủ thứ, bất cứ thứ gì người ta được trải qua còn tôi thì không, tôi thèm lắm, thế nên tôi vẫn sẽ và vẫn mãi không muốn dừng lại hành trình trải nghiệm của mình.

Trong công việc kinh doanh tôi thường hay bị một cậu bạn thân đang khá thành công lĩnh vực thời trang lắc đầu khó hiểu.

Cậu ấy hỏi tôi sao lại phân tán đủ thứ như thế làm gì? Làm ít thôi, tập trung dô, làm cho một cửa hàng thật hiệu quả còn hơn mở đủ thứ mà không quản lý được.

Tất nhiên tôi hiểu cậu, hiểu sự quan tâm của cậu và những gì cậu ấy nói hoàn toàn có lý. Nhưng tôi chỉ đơn giản là không thể nghe theo, vì hiện tại tôi không muốn chỉ làm việc vì tiền.

Và nhất là, khác biệt ở chỗ tôi làm mọi thứ với tâm thế của người trải nghiệm.

Tôi thử sức mình ở mọi lĩnh vực tôi yêu thích, ban đầu là thời trang, sau đó là lưu niệm, quán cafe, viết lách, sắp tới sẽ là về trà, nông nghiệp, sản xuất kinh doanh, dịch vụ homestay và rồi bất động sản…

Bất cứ thứ gì tôi đủ quan tâm tôi sẽ làm thử, không chắc là mình làm tốt và thành công nhưng chắc chắn sau mỗi thất bại đi chăng nữa tôi đều học hỏi được rất rất nhiều.

Tôi 24, cái tuổi không lớn, nhưng tôi dám cá là mình hơn rất nhiều người lớn tuổi khác về khoản những trải nghiệm.

Đó là điều khiến tôi tự hào.

Vậy nên, nếu bạn cũng muốn có gì đó để bản thân thấy tự hào, mà những thứ đó không thể là gia cảnh, công việc tốt, ngoại hình đẹp…. thì hãy chọn con đường làm giàu trải nghiệm để bản thân có thể tự hào về chính mình.

Bạn có làm được không?

Tự  nhiên tôi tưởng tượng về một thế giới, mà không, một Việt Nam hoàn toàn khác. Một Việt Nam mà tuổi trẻ thực sự là một món quà lớn lao, nơi đó người ta xông pha trải nghiệm mọi thứ.

Mọi sinh viên đều chủ động đi làm thêm, đều có những mục đích, định hướng cho riêng mình.

Một nơi mà đi khắp nơi đều gặp tuổi trẻ đi trải nghiệm đông vui trên mọi nẻo đường. Nơi mà tuổi trẻ không ù lì, không thụ động, không ca thán, không đổ lỗi…

Nơi mà tuổi trẻ mặc sức sáng tạo và được quyền làm mọi điều mình muốn. Khi đó, sức sống của dân tộc Việt Nam sẽ lại hồi sinh, mãnh liệt và đáng tự hào.

Còn hiện tại thì sao? Việt Nam có thật là một quốc gia trẻ trung không? Hay chỉ đơn thuần là một quốc gia nhiều người trẻ tuổi nhưng khả năng vận động lại yếu ớt như những cụ già?

Bạn có yêu nước không? Có muốn thay đổi điều đó không? Thế thì hãy bắt tay hành động đi, đừng nói câu “tương lai đất nước nằm trên vai các con, các cháu” nữa.

Biết bao thế hệ người Việt Nam ta nói câu đó mỗi ngày rồi? Tại sao không chính chúng ta chịu một phần trọng trách đó mà toàn trốn tránh và đùn đẩy cho các thế hệ sau?

Tuyệt đối đừng nói câu đó nữa mà hãy tự mình hành động đi thôi. Với các bạn trẻ, hãy nhào vào đời, hãy trải nghiệm đi, mà mở mang tầm mắt, mà học hỏi, mà lớn lên…

Bởi vì, không có trải nghiệm, tuổi trẻ không đáng một xu đâu!

Tuyệt đối không một ai trên đời phải hối hận vì trải nghiệm quá nhiều. Bởi lẽ với trải nghiệm thì bao nhiêu cũng không đủ.

Ấy thế mà bạn vẫn muốn để tuổi trẻ trôi qua mà không có trải nghiệm gì sao? Đừng tìm kiếm xa xôi, kho báu tuổi trẻ là thời gian và sức khỏe đang ngay trong bạn đấy.

Hãy tận dụng nó đi! Ngay đi!

Theo Triết học đường phố

Xem bài gốc tại đây

 

Venezuela – nơi xăng rẻ hơn nước lã

Một đôla Mỹ có thể giúp người Venezuela mua hơn 1.800 lít xăng, đủ để đi 6 vòng quanh đất

Một đôla Mỹ có thể giúp người Venezuela mua hơn 1.800 lít xăng, đủ để đi 6 vòng quanh đất nước.

Cuối tuần trước, Tổng thống Venezuela – Nicolas Maduro phát biểu rằng ông đang cân nhắc tăng giá xăng. Theo nhiều nhà phân tích, điều này sẽ tốt cho nền kinh tế.

Đã hai thập kỷ kể từ lần cuối Chính phủ Venezuela cố gắng điều chỉnh giá nhiên liệu theo hướng đi lên. Đó không phải là một quyết định dễ dàng vì vào năm 1989, việc xăng tăng giá đã gây ra cuộc biểu tình lớn khiến hàng trăm người thiệt mạng. Bên cạnh đó, đồng nội tệ nước này cũng liên tục mất giá so với đôla Mỹ, khiến xăng tính theo USD ngày càng rẻ, rẻ đến mức không tưởng khi so sánh với các nước khác. Khi dầu thô thế giới ngày một giảm giá như hiện nay, xăng tại Venezuela rẻ hơn cả nước.

fuel
Henry Duran, một người dân Venezuela đang đổ đầy xăng cho chiếc Ford LTD Ranger sản xuất năm 1978 tại Caracas, Venezuela. Ảnh: AP

Trong bảng giá mới nhất do Bloomberg công bố, xăng hiện ở mức 0,002 USD một gallon, tính theo tỷ giá USD trên thị trường “chợ đen”. Nếu quy ra lít và tiền Việt, giá này tương đương 11,3 đồng Việt Nam mỗi lít xăng. Ở Venezuela, một đôla Mỹ mua được 1.824 lít, đủ để lái một chiếc xe bán tải đi 6 vòng quanh đất nước.

Với người dân Venezuela, giá xăng rẻ là một món quà. “Xăng rẻ hơn nước lọc”, một người dân nói với tờ Washington Post. Theo người này, giá một chai nước nơi đây còn đắt hơn nhiều so với việc đổ đầy xăng chiếc xe máy của anh.

“Rẻ hơn cả không khí” – tài xế xe tải khác phát biểu sau khi trả tiền bơm lốp. Còn một người lái chiếc xe thể thao đa dụng ví von rằng giá xăng ở Venezuela rẻ đến mức họ thoải mái rửa tay bằng xăng.

Là một trong những nước có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới, Venezuela có lý do để bán xăng giá thấp. Tuy nhiên, dường như Chính phủ nước này khó có thể trợ cấp mãi, khi mà nền công nghiệp dầu mỏ đang lao đao, nhiều công ty xuất khẩu sụp đổ. “Các công ty phá sản và không thể chịu đựng thêm chính sách trợ cấp như vậy nữa”, Siobhan Morden, một nhà phân tích của công ty Jefferies LLC nói với Bloomberg.

 

Theo vnexpress

Xem bài gốc tại đây

Đại gia Việt và văn hóa thiện nguyện

Giám đốc Chương trình VN tại ĐH Harvard Thomas Vallely cho rằng sở dĩ các đại gia VN chưa sẵn lòng hiến tặng tiền cho trường đại học một phần vì chưa có hệ thống khuyến khích họ làm vậy. Nhưng căn nguyên khác còn vì thiếu niềm tin.

Giám đốc Chương trình VN tại ĐH Harvard Thomas Vallely cho rằng sở dĩ các đại gia VN chưa sẵn lòng hiến tặng tiền cho trường đại học một phần vì chưa có hệ thống khuyến khích họ làm vậy. Nhưng căn nguyên khác còn vì thiếu niềm tin.

Trong phần này, người sáng lập Đại học Fulbright VN chia sẻ góc nhìn của ông về văn hóa thiện nguyện của người giàu ở Mỹ và VN.

Nhà báo Việt Lâm:Trường ĐH Fulbright VN (FUV) tuyên bố sẽ đi theo hướng không vì lợi nhuận. Thời gian qua, có khá nhiều cuộc tranh luận trong công chúng nghi ngờ về tính bền vững về tài chính của mô hình mà FUV đang theo. Họ lập luận rằng, mô hình đại học phi lợi nhuận phát triển mạnh ở Mỹ vì người Mỹ đã có được tập quán quyên tặng tiền cho trường đại học, còn ở VN đây vẫn là khái niệm xa lạ. Không ít đại gia Việt sẵn sang hiến một số tiền lớn để xây chùa, xây đền nhưng khi họ bỏ tiền vào trường đại học thì họ coi đó là một khoản đầu tư và phải thu hồi được lợi nhuận.

Ông Thomas Vallely: Tôi hiểu sự hoài nghi này. Tình trạng chạy theo lợi nhuận trong giáo dục đại học là một vấn đề có thật. Nhưng chuyện lạm dụng yếu tố phi lợi nhuận cũng hoàn toàn có thể xảy ra. Nói cách khác, đây không phải là chuyện mô hình này hoàn hảo còn mô hình kia thì không.

Tuy nhiên, nhìn chung các trường đại học vì lợi nhuận ở Mỹ rất hiếm. Chẳng hạn, trong top 100 trường đại học tốt nhất không có trường nào hoạt động vì lợi nhuận cả. Có thể trong top 500 có vài trường nhưng rất hiếm. Nói cách khác, hệ thống đại học vì lợi nhuận không thực sự tồn tại ở Mỹ.

Nguyên tắc hoạt động cơ bản của mô hình phi lợi nhuận là gì? Nếu anh có một chương trình đào tạo quản trị kinh doanh hay kỹ sư tốt và những người trẻ muốn vào học, lấy bằng rồi khi ra trường kiếm được công việc ở một công ty tốt, chẳng hạn ở Vietnam Airlines, thì họ có thể trả được tiền học phí. Nhưng nếu bạn muốn trở thành một nhà hoá học, thì sau khi học xong rất có thể bạn sẽ làm một công việc mà không thể kiếm đủ tiền để trả nợ học phí. Do đó, sinh viên học ngành hoá cần được trợ cấp. Tức là chúng tôi lấy tiền thu được từ các chương trình đào tạo quản trị kinh doanh MBA để tài trợ cho sinh viên học ngành khoa học. Nói cách khác, có những ngành cần hoạt động theo quy luật thị trường nhưng có những ngành học phải được trợ cấp. Trong một trường đại học phi lợi nhuận, anh sẽ lưu chuyển dòng tiền sang những ngành học cần được trợ cấp.

Vậy sự khác biệt căn bản giữa đại học phi lợi nhuận và đại học vì lợi nhuận là gì?

Trong mô hình vì lợi nhuận, anh phải kiếm ra tiền và đưa tiền đó về cho các cổ đông bởi vì họ đã đầu tư tiền vào trường và cần thu lại. Còn trong mô hình phi lợi nhuận, anh không cần phải trả tiền lại cho cổ đông, thay vì thế anh trợ cấp cho các sinh viên và ngành học như tôi vừa nói.

Chắc chắn là để có các trường đại học phi lợi nhuận thì cần có sự hiến tặng của các cá nhân, tổ chức. Như tôi từng nói, nếu trường ĐH Fulbright không thể kết nối với xã hội VN ở mức độ thực sự sâu sắc thì trường sẽ không thể phát triển bền vững được. FUV cần nguồn đầu tư từ những các cá nhân giàu có và những người quan tâm đến trường. Ở đây, quay trở lại vấn đề quản trị. Nếu FUV có một cơ chế quản trị đúng đắn thì tôi tin rằng FUV sẽ thu hút được tài trợ từ tư nhân.

Hiện FUV đã có đủ nguồn tiền ban đầu để thành lập và hoạt động nhưng chắc chắn chúng tôi cần xã hội Việt Nam ủng hộ về học phí, tiền hiến tặng và có thể cả nguồn vốn tài trợ từ nhà nước. Đó là sự kết hợp của nhiều nguồn.

Ông Thomas Vallely

– Vậy ông sẽ nói gì với các nhà tài trợ tiềm năng ở Việt Nam, nhất là khi họ hỏi ông “Tôi sẽ nhận lại được gì khi hiến tặng cho FUV?”

Bạn sẽ không nhận được gì ngoài một lá thư cảm ơn từ FUV rằng: Rất cảm ơn ông/bà đã đóng góp cho trường Fulbright (cười). Thực ra, điều bạn sẽ nhận lại được là sự tưởng thưởng vì đã đóng góp sức mình để kiến thiết một quốc gia. Nếu bạn muốn có một VN mạnh hơn, tốt hơn cả là bạn hãy góp sức mình xây các trường đại học. Nếu bạn từng nghĩ đến việc làm sao để xây dựng một VN đủ mạnh để đứng vững trước những áp lực từ bên ngoài thì bạn hãy cân nhắc đóng góp cho đất nước.

– Theo tôi được biết, FUV cũng đã vận động gây quỹ trong cộng đồng doanh nghiệp VN. Từ những phản hồi ông nhận được thì liệu có thể lạc quan về triển vọng các doanh nhân, đại gia VN sẽ quan tâm và đóng góp cho các sáng kiến xây trường đại học phi lợi nhuận không?

Thực sự là chúng tôi đã nhận được tiền hiến tặng hay cam kết hiến tặng từ Việt Nam.

– Nước Mỹ nổi tiếng về văn hoá quyên tặng tiền cho các trường đại học. Động lực nào làm nên tinh thần này?

Ở Mỹ chúng tôi có luật thừa kế. Theo luật thì phần lớn của cải của bạn không thể được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bởi vì hệ thống thuế của Mỹ quy định, bạn có thể nạp thuế cho chính phủ hoặc đem số tiền đó cho một ai khác. Chính vì vậy, người giàu Mỹ thà đem tiền làm từ thiện hơn là nạp cho chính phủ để họ mua máy bay chiến đấu, tàu ngầm. Họ nói tôi muốn quyên tiền cho bảo tàng Metropolitan ở New York để họ có thể mua thêm tranh của Van Goh chẳng hạn. Đó là lý do vì sao mà văn hoá từ thiện lại trở nên phổ biến ở Mỹ. Nhiều người giàu Mỹ cũng có thể muốn hiến tặng tiền của cho những trường đại học mà họ từng theo học. Đây là nguồn tài trợ chủ yếu cho các trường nhỏ. Ưu đãi thuế chính là động lực chính phía sau văn hoá thiện nguyện ở Mỹ.

Ở VN chưa có một hệ thống ưu đãi như vậy để khuyến khích người giàu đóng góp thiện nguyện nhưng tôi nghĩ Chính phủ có thể suy nghĩ về mô hình này. Bởi vì tôi tin là văn hoá thiện nguyện có vai trò quan trọng để khuyến khích sáng tạo và đổi mới thể chế. Tiền hiến tặng cần được sử dụng nhưng lợi nhuận mà họ nhận về phải là chất lượng dịch vụ công được cải thiện. Chỉ như thế, nguồn tiền hiến tặng mới tạo ra giá trị đích thực.

– Như vậy có thể hiểu là không hẳn người giàu ở VN chưa sẵn lòng hiến tặng tiền mà có thể bởi vì họ còn chưa đủ lòng tin rằng chất lượng dịch vụ công sẽ cải thiện.

Tôi nghĩ đúng như vậy.

– Thế những hoạt động thiện nguyện đã phát triển như thế nào ở các nước châu Á khác như Trung Quốc chẳng hạn? Báo chí gần đây nói nhiều về việc những người giàu ở Trung Quốc bắt đầu hiến tặng rất nhiều tiền cho các trường đại học.

Trung Quốc có những trường đại học rất tốt. Và điều khá thú vị là đấy là những mô hình khá giống với mô hình mà chúng tôi đang theo đuổi cho FUV, một mô hình mà Việt Nam và Mỹ đã mất đến cả một thập niên để thảo luận. Chúng ta đã mất một thời gian khá dài kể từ chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phan Văn Khải hồi năm 2005. Thảo luận thì nhiều nhưng chưa có mấy hành động thực tế để biến tầm nhìn đó thành hiện thực.

Trở lại câu chuyện Trung Quốc, bước vào đầu thế kỷ 20, các nhóm tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo bắt đầu đầu tư mạnh vào giáo dục đại học ở Trung Quốc. Vì vậy, có khoảng 6 – 7 trường đại học của Trung Quốc nhận được nguồn tài trợ lớn từ các cá nhân rất giàu có, chẳng hạn như tỷ phú Henry Louis, ông vua ngành nhôm lúc đó. Những tỷ phú này là thành viên của phong trào Thiên Chúa giáo, họ quan tâm tới Trung Quốc và hiến tặng tiền xây những trường đại học thuộc loại tốt nhất ở Trung Quốc ngày nay.

Riêng ĐH Thanh Hoa là một ngoại lệ. Trường ĐH Thanh Hoa được xây dựng từ nguồn quỹ tái thiết Trung Quốc sau chiến tranh do Mỹ chi trả. Đây là trường đại học kỹ thuật hàng đầu của Trung Quốc hiện nay.

Điểm thú vị là nguồn tiền ban đầu xây trường Đại học Fulbright cũng có khởi nguồn phần nào tương tự như ĐH Thanh Hoa. Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học VN, tổ chức chịu trách nhiệm xây FUV nhận tài trợ từ khoản tiền trả nợ mà VN trả cho các khoản vay dân sự của chính quyền Sài gòn cũ sau chiến tranh VN.

(Thomas Vallely cũng chính là người đã vận động để Chính phủ Mỹ dành một phần lớn khoản tiền trả nợ này thành lập Quỹ Giáo dục VN VEF, tài trợ học bổng cho người VN sang Mỹ theo học cao học hoặc tiến sỹ trong các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật – PV).

Sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc lên nắm quyền, họ không đóng cửa các trường đại học này mà chỉ để chúng ngưng hoạt động cho đến khi Trung Quốc bắt đầu cải cách, mở cửa. Nhờ vậy mà đến nay, những trường này vẫn duy trì được thế mạnh của mình.

Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc cũng đầu tư xây dựng rất nhiều trường đại học mới, nhưng không phải theo mô hình của Mỹ. Bạn sẽ không muốn tạo ra huyền thoại Trung Quốc đâu vì rất có thể bạn sẽ phóng đại năng lực thực của họ trong giáo dục. Các trường này vẫn tương đối đóng cửa trong khi FUV có thể sẽ cởi mở hơn một chút.

– Tại lễ kỷ niệm 20 năm Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, ông đã tuyên bố trước sự có mặt của quan chức hai nước rằng trường ĐH Fulbright sẽ không phải là trường tốt nhất VN mà là trường đại học mới thành lập tốt nhất trên thế giới. Ông có thể giải thích vì sao FUV lại đặt mục tiêu như vậy không?

Ý tưởng của chúng tôi là đừng nỗ lực trở thành trường đại học tốt nhất VN. Trước hết, điều đó sẽ rất khó khăn. Nhưng khi chúng tôi nói chúng tôi muốn xây một trường đại học mới tốt nhất trên thế giới, chúng tôi thực sự quyết tâm.

Sẽ mất một thời gian để FUV có thể có những chương trình đào tạo kỹ sư tốt hơn trường ĐH Bách Khoa TP.HCM chẳng hạn. Chúng tôi sẽ không cạnh tranh về điều này. Khi chúng tôi nói rằng chúng tôi sẽ cố gắng để trở thành trường đại học mới tốt nhất trên thế giới, điều đó có nghĩa là chúng tôi sẽ sử dụng những phương pháp giảng dạy khác. Nói cách khác, chúng tôi đang cố gắng tìm kiếm xây dựng mô hình đại học mới tốt nhất trên thế giới. Và chúng ta sẽ xem xem mô hình ấy sẽ ra sao.

Đây là một cuộc thử nghiệm. Tất nhiên, FUV sẽ vẫn phải cạnh tranh với một số chương trình đào tạo khá mạnh của VN. FUV sẽ làm điều đó như thế nào? Đó vẫn còn đang là một tiến trình với nhiều thử nghiệm.

– Có lẽ câu trả lời này của ông đã giải thích phần nào cho câu hỏi của nhiều độc giả rằng liệu FUV có dựa trên mô hình giáo dục đại học hiện tại mà ngay ở Mỹ cũng đang bắt đầu tranh luận và xem xét lại. Có thể hiểu rằng FUV sẽ đặt mình trong dòng chảy của những công nghệ giáo dục mới đang biến cải giáo dục bậc cao trên thế giới hiện nay, như giáo dục trực tuyến mở chẳng hạn?

Đúng vậy. Khi tôi lái xe đi đâu đó chẳng hạn, tôi download một khoá học mà tôi có thể theo dõi trên điện thoại của tôi. Ví dụ hôm nay tôi đang muốn học về opera, nên tôi download khoá học từ một công ty cung cấp khoá học và nghe giảng suốt 2 giờ đồng hồ lái xe. Điều đó thật tuyệt vời. Hay là gần đây, tôi đã làm một chuyến đi dài về quê hương của nhà văn William Faulkner ở Missisipi. Tôi chỉ việc bấm vào khoá học về ông ấy trên Iphone và thế là khi tôi đến quê hương ông ấy thì tôi đã học xong khoá học về ông ấy trong ô tô của mình.

– Nhiều độc giả hỏi ông rằng, ông có tin rằng vấn đề của giáo dục đại học ở VN có thể được giải quyết bằng một số trường đại học tốt nhất, như mô hình mà FUV đang theo đuổi không?

Tôi có lòng tin như vậy. Nếu không, tôi đã không làm.

– Nhưng ông cũng biết đấy, Viettel có thể trở thành “người thay đổi cuộc chơi” trong lĩnh vực viễn thông vì hiệu ứng lan toả trong kinh tế dễ hơn nhờ sự cạnh tranh. Còn trong hệ thống giáo dục đại học thì nhiều người nghi ngờ là những trường tốt nhất liệu có thể đóng vai trò lan toả ảnh hưởng hiệu quả được hay không khi mà sự bảo thủ của hệ thống giáo dục không phải là nhỏ. Ông sẽ trả lời với những người hoài nghi này như thế nào?

Tất nhiên, tôi không có đủ tự tin để nói rằng “Ồ, đúng rồi, FUV sẽ làm được điều đó. Đừng lo lắng gì cả!”. Không, tôi không tin điều đó.

Nhưng tôi tin tưởng rằng chúng tôi sẽ tạo nên một sự đổi mới sáng tạo nhỏ về mặt thể chế rất thú vị về những gì mà một trường đại học có thể làm được. Và hi vọng là nếu nó đủ tốt thì cho dù mô hình này không hiệu quả ở VN, nó có thể hữu ích ở những nơi khác.

Dù sao đi nữa thì hiện tại chúng tôi vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị thành lập trường. Tôi rất mừng vì Quốc hội Mỹ, cả hai đảng đều ủng hộ sáng kiến này với VN và tài trợ cho chúng tôi khoản ngân quỹ cần thiết để xây trường. Chúng tôi sẽ tận dụng cơ hội lớn này một cách nghiêm túc. Đương nhiên, FUV cũng cần phải gây dựng niềm tin từ công chúng và chúng ta sẽ phán xét FUV sau này.

– Tôi thì vẫn có niềm tin rằng: hành động luôn ý nghĩa hơn bất kỳ lời nói nào và thay vì ngồi đó hoài nghi hay tự ti thì hãy bắt tay vào hành động. Bất kỳ một cuộc cải cách nào cũng đều phải bắt đầu từ những thử nghiệm và chúng tôi hi vọng rằng cuộc thử nghiệm với FUV sẽ thành công và tạo ra hiệu ứng lan toả cho giáo dục đại học VN. Xin cảm ơn ông!

Theo Vietnamnet

Xem bài gốc tại đây

Tết Tình Yêu, Cuộc Gặp Đầu Xuân Ất Mùi Của Sinh Viên New York

Hội Sinh Viên Thanh Niên New York xin trân trọng giới thiệu chương trình Tết 2015: Tết Tình Yêu sẽ được tổ chức vào 6pm, Chủ Nhật, 08/02/2015 tại hội trường đảo Rossevelt, 8 River Road, New York, New York 10044.

Với tiêu chí kết nối và là nơi hội ngộ cho các bạn trẻ tại New York và các bang lân cận, Tết Tình Yêu hứa hẹn sẽ là một chương trình tuyệt vời để khởi đầu năm 2015 với những tiết mục mới lạ và hấp dẫn.

Tet 2015 Poster

Tiếp nối thành công của Tết Giáp Ngọ 2014: “Xuân này ai không về, Xuân này ai single?” cũng như chương trình chào Hè – Summer Scent, chương trình Tết Tình Yêu chắc chắn sẽ làm các bạn trẻ hài lòng hơn nữa với những điểm nhấn mang đậm dấu ấn của VNNY. Gây ấn tượng với các tiết mục văn nghệ, nhảy flashmod và những màn đấu giá rất New York: đấu giá đầu bếp, đấu giá hẹn hò, Tết năm nay sẽ có những bất ngờ gì? Các bạn hãy cùng chờ đợi và cùng nhau khám phá tại buổi họp mặt đầu xuân năm nay tại New York nhé!

Ban to chuc Tet 2014 cung Dai Su va Phu Nhan
Bật mí nhỏ từ ban tổ chức, cuộc thi Miss VNNY 2015 sẽ được lần đầu tiên tổ chức tại New York để chào mừng Tết Ất Mùi. Thêm 1 lý do để đến New York chung vui và tìm ra gương mặt đại diện Miss VNNY năm nay. Các thí sinh nữ ở New York hay các vùng lân cận hãy gửi ảnh tham gia thi tại vnny1912014@gmail.com

Hoi Ngo Chao He - Summer Scent tai New York

An Võ.

Bí quyết “sống sót” khi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ

Tác giả Andrew Gaudet, tốt nghiệp chương trình tiến sĩ tại Đại học British Columbia, tiết lộ “bí quyết” để làm việc năng suất và thành công trong quá trình làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ.

Tác giả Andrew D. Gaudet, http://sciencecareers.sciencemag.org
Huyền Lê dịch

Lắng nghe quan điểm và triết lý của những người bạn kính trọng sẽ giúp bạn tránh được nhiều “ổ gà”.

Khi rời mắt khỏi đống dụng cụ thí nghiệm, Steven ghi chép lại những gì diễn ra trong lab mình. Bên trái: ngôi sao sáng chói Laura. Laura luôn làm việc nghiên túc. Chị đã nộp bản thảo nghiên cứu ngay từ năm đầu tiên vào lab này. Bên phải: nghiên cứu sinh năm thứ 8 Derek. Derek chưa hề có bài báo nào. Gã suốt ngày đắm chìm vào các buổi seminar có kèm pizza miễn phí và lướt web săn giày leo núi giảm giá.

Steven tự hỏi, làm sao để anh, một nghiên cứu sinh năm 2, tránh được số phận của Derek và khép mình vào quỹ đạo của Laura?

Nhiều người trong chúng ta đã từng có “khoảnh khắc kiểu Steven” khi học sau đại học, khi chúng ta so sánh mình với bạn bè và tự hỏi làm sao để con đường đi tới tấm bằng tiến sĩ bớt chông chênh hơn, khi chúng ta chuẩn bị cho tương lai phía trước. Học hỏi kinh nghiệm của những người bạn tôn trọng sẽ giúp bạn tránh nhiều ổ gà trong đời. Trong bài này, tôi sẽ tiết lộ các mẹo nhỏ để làm việc năng suất, giúp bạn giữ vững nhuệ khí và vươn lên phía trước.

Thiết kế và hoàn thành dự án nghiên cứu

Đặt câu hỏi tốt. Dành nhiều thời gian suy nghĩ về các dự án và phân tích trước khi bạn bắt đầu. Đọc đi đọc lại và hcinhr sửa câu hỏi nghiên cứu thường xuyên.

Nên có ít nhất 2 dự án. Nếu một dự án không đi đến đâu, bạn vẫn có thể tập trung vào dự án còn lại. Bạn có thể phát triển dự án thứ hai bằng cách cộng tác với các bạn cùng lab và các nghiên cứu viên từ lab khác.

Viết rõ mục tiêu. Mục tiêu hiệu quả cần có 5 đặc điểm chính: khó, khả thi, cụ thể, có các mốc thời gian rõ rang, và phải xem xét và sửa đổi định kỳ.

Viết thường xuyên để viết hiệu quả. Bài viết của bạn đưa câu chuyện khoa học của bạn đến với mọi người. Nên đọc viết thường xuyên để cải thiện kĩ năng viết. Trước khi bắt đầu dự án, hãy viết mục giới thiệu, rồi sửa nhiều lần khi bạn tiếp tục viết các phần sau. Viết hồ sơ xin học bổng hoặc xin tài trợ nghiên cứu. Tham dự các câu lạc bộ và seminar viết báo . Đặt theo dõi trích dẫn hang tuần để nắm được các kết quả nghiên cứu mới nhất liên quan tới chuyên ngành của bạn. Tóm tắt lại các bài báo hay và liên quan, nhớ ghi chú là bài báo đó liên quan tới mảng nghiên cứu của bạn như thế nào.

Hoàn thành đến nơi đến chốn. Nếu thí nghiệm nào đó đáng để theo đuổi, thì nó cũng đáng được hoàn thành. Đừng chỉ dừng lại ở sổ ghi chép thí nghiệm mà hãy tạo các slide PowerPoint tổng hợp các kết quả thí nghiệm. Viết thêm cả phần mục đích, phương pháp, kết quả, và giải thích kết quả cùng với đầy đủ dữ liệu và bảng biểu. Cả giáo sư lẫn bạn sẽ đánh giá cao nỗ lực này nếu mãi về sau bạn muốn lục lại những thí nghiệm này.

Làm việc trong lab

Tôn trọng bạn cùng lab, kể cả Derek. Mọi người trong lab đều có các kĩ năng mà họ có thể giúp bạn. Nếu bạn thường xuyên làm việc với sinh viên đại học hoặc các kĩ thuật viên, hãy bày tỏ sự tôn trọng của bạn bằng cách mời họ ăn trưa. Bạn sẽ thấy kể cả Derek – người đi học cả đời – có những kĩ năng hoặc kiến thức mà bạn có thể hỏi được.

Xin lời khuyên từ người khác. Bạn có thể học cách thiết kế thí nghiệm bằng cách trao đổi với các nhà nghiên cứu lão làng. Liệu bạn đã bao quát hết các chi tiết quan trọng? Nếu bạn cùng lab có vẻ bận thì hãy xếp lịch xin gặp họ.

Bỏ ra một bên. Nếu bạn cùng lab hoặc người hướng dẫn làm bạn giận, hãy viết suy nghĩ của bạn (bí mật thôi), nhưng đừng trả lời ngay lập tức. Bỏ qua một bên rồi đầu óc bạn sẽ tỉnh báo hơn và bạn có thể viết thư trả lời một cách bình tĩnh hơn vào ngày hôm sau – nếu bạn còn định trả lời.

Thừa nhận đóng góp của người khác. Hãy thừa nhận đóng góp của người khác trong mọi bài thuyết trình, thậm chí (hoặc đặc biệt là) các sự kiện nhỏ như họp lab.

Tìm và nộp hồ sơ học bổng và tài trợ đi lại. Giáo sư của bạn sẽ đánh giá cao sự chủ động của bạn, và bạn cũng sẽ có kinh nghiệm từ những việc này – đặc biệt là khi bạn bắt đầu xin tài trợ nghiên cứu.

Cần hướng dẫn của cố vấn? Hãy lên lịch hẹn gặp. Cố vấn của bạn rất bận. Trừ phi họ xuề xòa, còn không thì nên đặt lịch hẹn gặp.

Nhờ giúp đỡ. Nếu bạn không có kiến thức về mảng nào đó, hoặc nếu lịch làm việc quá bận, hãy nhờ ai đó giúp đỡ.

Đừng chế lại bánh xe. Nói chuyện với bạn cùng lab, tìm kiếm các nhà nghiên cứu ở quanh mình, hoặc cộng tác với các chuyên gia ở nơi khác khi bạn cần khai thác một kĩ thuật lạ nào đó. Bạn sẽ không được thêm điểm cho việc ngồi làm một mình đâu.

Học cách nhận biết khi nào thì nên soi vào chi tiết. Nhiều thí nghiệm có những phần phải được tiến hành theo một cách nhất định và có những phần có thể linh hoạt hơn. Nếu bạn biết rõ từng công đoạn, bạn sẽ biết công đoạn nào cần làm nhanh và lúc nào thì cần tập trung vào chi tiết.

Đặt nhiều hi vọng nhưng đừng đặt nhiều kì vọng. Thái độ này sẽ giúp bạn có trạng thái tinh thần tốt nhất khi thành công lẫn khi thất bại nếu thí nghiệm không thành.

Khi thất bại, đừng tự trách mình. Hãy coi đó là một kinh nghiệm xương máu.

Bất an là dấu hiệu của thay đổi, hoặc dấu hiệu cho biết nên thay đổi. Nếu bạn cảm thấy không ổn khi làm một dự án hoặc khi làm việc trong một lab nào đó, hãy coi sự bất an này là động lực để thay đổi nhằm giải quyết các vấn đề đằng sau đó.

Giả vờ tới khi thành sự thật. Hội chứng tự ti (impostorism) – là hội chứng tự thấy mình kém cỏi, cho rằng thành công của mình là do may mắn và do người khác giúp đỡ, và rằng người ta đã bỏ qua điểm yếu của bạn. Đây là hội chứng phổ biến trong giới khoa học. Hãy tạo nên sự tự tin bằng chính vị thế của bạn (“Tôi là nghiên cứu sinh, nên tôi sẽ cư xử như một nghiên cứu sinh”) và hãy học hỏi những người mà bạn nể trọng (postdoc hoặc nghiên cứu viên chính mà bạn ngưỡng mộ). Hơn hết, bạn nên tạo ra sự tự tin bằng cách hoàn thành tốt công việc của mình.

Cải thiện năng suất làm việc

Mỗi ngày phải hoàn thành ít nhất hai nhiệm vụ. Đây là điều tối quan trọng khi bạn đang bế tắc (thí dụ khi bạn làm ra kết quả ngoài dự kiến hoặc không ổn). Hãy luôn tiến lên trước.

Ưu tiên hoàn thành những việc bạn thích nhất. Nếu đó là việc nhỏ, ngắn hạn, thì nên làm ngay vào đầu buổi sang. Bạn sẽ có động lực cho cả ngày. Nếu đó là việc khó, dài hạn, thì cần lên kế hoạch và bắt tay vào làm. Một khi bạn đã lên kế hoạch cho thí nghiệm và nhận đủ hóa chất, bạn sẽ lần lượt giải quyết các thứ tiếp theo. Bạn sẽ biến một lý do trì hoãn thành động lực làm việc nghiêm túc.

Dành thời gian giải lao xen kẽ các giai đoạn làm việc tập trung. Mọi người làm việc tốt hơn nếu họ dành thời gian để giải lao.

Bắt đầu làm việc ngay đầu buổi sang, ngay sau khi bật máy tính. Tránh việc kiểm tra thư và các trang mạng ít nhất là một giờ sau khi bạn bắt đầu làm việc. Nhớ đặt đồng hồ báo thức. Tự thưởng cho mình một hồi giải lao sau giờ làm việc đó.

Hạn chế dùng thư và mạng xã hội. Email và lướt web là nơi tiêu tốn nhiều thời gian nhất. Hãy kiểm tra thư không quá 2 lần mỗi ngày. Nếu bạn chờ thư từ GS hướng dẫn, hãy để mắt tới hộp thư nhưng đừng có đắm chìm vào đó. Hãy tập trung vào việc chính.

Dùng lịch và aggregator online để tổ chức công việc. Như vậy bạn sẽ bao giờ lỡ một buổi họp, thí nghiệm, hay workshop. Aggregator (Ví dụ Evernote) có tính năng kết nối giữa các thiết bị mobile và máy tính sẽ giúp bạn theo dõi và truy cập thông tin (ví dụ các thông tin chi tiết về việc đặt mua thiết bị/hóa chất cho lab).

Kết

Trên con đường nghiên cứu chông gai, bạn có thể lường trước được được khá nhiều ổ gà. Thậm chí bạn có thể tránh được kha khá nếu tạo đủ động lực. Còn nếu đủ khôn ngoan, bạn sẽ chẳng gặp rắc rối nào hết.

Bằng cách làm theo các chiến lược trong bài này, bạn có thể đặt mục tiêu hoàn thành công việc cho từng ngày, và đặc biệt là hoàn thành đúng hạn để đạt được mục tiêu dài hạn. Hi vọng là trong vài năm tới, nhiều sinh viên khác sẽ nhìn bạn như một “Laura” hơn là “Derek”. Bạn không cần phải làm nghiên cứu sinh đến năm thứ 8 chỉ để ăn pizza miễn phí.

Tác giả Andrew Gaudet tốt nghiệp chương trình tiến sĩ tại Đại học British Columbia năm 2010 và hoàn thành chương trình postdoc đầu tiên tại Đại học Ohio State năm 2014. Anh đang bắt đầu chương trình postdoc thứ hai tại ĐH Colorado, Boulder. Gaudet gửi lời cảm ơn tới những đồng nghiệp và cố vấn của anh, những người đã đóng góp rất nhiều vào bộ sưu tập các chiến lược làm việc hiệu quả này.

Mỹ hỗ trợ Cảnh sát biển Việt Nam tăng khả năng tự vệ

Trao đổi với báo chí bên lề hội thảo về quan hệ Việt – Mỹ diễn ra tại Hà Nội ngày 26.1, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius đã có những khẳng định về những hỗ trợ của Mỹ cho Việt Nam.

Trao đổi với báo chí bên lề hội thảo về quan hệ Việt – Mỹ diễn ra tại Hà Nội ngày 26.1, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius đã khẳng định Mỹ sẽ hỗ trợ cảnh sát biển Việt Nam để đảm bảo mọi tranh chấp trên Biển Đông cần phải được giải quyết theo con đường ngoại giao hòa bình và tôn trọng luật pháp, không sử dụng vũ lực.

– Việc ký Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong năm 2015 có phải là mục tiêu mà 2 nước hướng tới để kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao không, thưa ông?
Đại sứ Ted Osius: Đúng vậy, tôi nghĩ rằng đây là mục tiêu chung của 2 nước và có khả năng đạt được. Cả Mỹ và Việt Nam đều coi TPP là một thỏa thuận có tính chiến lược, một thỏa thuận tốt về mặt kinh tế.
Việt Nam là 1 trong số 12 nước đang tích cực tham gia đàm phán về TPP. Trong thông điệp liên bang mới đây, Tổng thống Obama cũng đã nói về những lợi ích của TPP đối với Mỹ cũng như các nước trong khu vực. Ông cũng nhấn mạnh về việc cần nhanh chóng kết thúc TPP cũng như tiến tới thực hiện hiệp định. Hiện cả Washington và Hà Nội đều có ý chí chính trị để đạt được TTP. Tôi lạc quan rằng chúng ta có thể kết thúc được hiệp định này trong năm nay.
– Vậy khi nào 2 nước có thể thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược, thưa ông?
– Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là nội hàm của quan hệ chứ không phải cái tên của quan hệ. Với 9 trụ cột trong quan hệ của 2 nước, tôi thấy các lãnh đạo của Việt Nam và Mỹ đều rất kỳ vọng về quan hệ đối tác của 2 nước. Họ muốn nhấn mạnh đến tính thực chất, đến những công việc mà 2 nước có thể làm cùng nhau. Điều đó có tính quan trọng hơn nhiều so với cái tên của quan hệ.
– Ông có thể cho biết những nét lớn trong hợp tác quốc phòng giữa 2 nước?
Phía Mỹ sẽ giúp lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và đây là điều rất quan trọng đối với 2 nước. Mục đích của hợp tác cảnh sát biển giữa 2 nước là thực hiện các hoạt động chung, cũng như làm sao để bảo đảm cho tình hình ở khu vực châu Á hòa bình, ổn định, thịnh vượng; làm sao để các nước trong khu vực tuân thủ hợp tác quốc tế và không nước nào có hành động đe dọa các nước khác.
Điều này sẽ giúp các nước được hưởng lợi từ các tuyến hàng hải tự do, giúp hàng hóa được vận chuyển tự do giữa các nước. Chúng tôi sẽ tiếp tục giúp đỡ Việt Nam và hợp tác với Việt Nam.

– Những sự trợ giúp về năng lực cảnh sát biển nằm trong chính sách nào của Mỹ, thưa ông?

– Mỹ không đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông. Song, chúng tôi có quan điểm và niềm tin mạnh mẽ vào việc giải quyết các tranh chấp đó như thế nào. Mỹ đã làm rất nhiều việc để giúp Việt Nam nâng cao năng lực giám sát biển cũng như hợp tác về an ninh hàng hải.

Chúng tôi muốn mọi tranh chấp cần phải được giải quyết theo con đường ngoại giao hòa bình và tôn trọng luật pháp, không sử dụng vũ lực. Chính sách của Mỹ là cung cấp, hỗ trợ cho các đồng minh, các đối tác của mình năng lực để họ tự bảo vệ. Điều này cũng nhằm giúp khu vực xây dựng những cơ chế pháp lý để giải quyết bất đồng, tranh chấp một cách hòa bình.
Điểm mấu chốt là để thực hiện các hoạt động ngoại giao thì cần phải thông qua ASEAN và Mỹ là một người bạn của ASEAN. Chúng tôi muốn các nước ASEAN vững mạnh hơn.
Theo Người lao động
Xem bài gốc tại đây

Không thể bê nguyên Harvard về Việt Nam

Giám đốc Chương trình VN tại Harvard chia sẻ tầm nhìn làm thế nào để ĐH Fulbright Việt Nam trở thành một “người thay đổi cuộc chơi” trong giáo dục đại học.

Giám đốc Chương trình VN tại Harvard chia sẻ tầm nhìn làm thế nào để ĐH Fulbright Việt Nam trở thành một “người thay đổi cuộc chơi” trong giáo dục đại học.

10 năm cho ý tưởng đại học đẳng cấp quốc tế

Nhà báo Việt Lâm: Tháng 6 năm ngoái, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định đồng ý chủ trương thành lập trường Đại học Fulbright (FUV) và tháng 12 thì Quốc hội Mỹ thông qua khoản ngân sách trị giá 20 triệu USD cho FUV. Mọi việc có vẻ tiến triển khá nhanh chóng. Nhưng tôi nhớ từ cách đây hơn 10 năm, ông đã là một trong những người cổ xúy mạnh mẽ cho ý tưởng thành lập trường đại học đẳng cấp quốc tế ở VN. Thậm chí, Chính phủ VN còn lập ra một ủy ban đặc biệt để xem xét sáng kiến này đúng không?

Ông Thomas Vallely: Tôi đã quên mất tên của ủy ban đó rồi nhưng đúng là có một nhóm như thế do Chính phủ lập ra. Câu chuyện của nó là như thế này.

Khi đó, ông Phan Văn Khải đang là Thủ tướng. Công bằng mà nói, ông Khải chính là người đóng vai trò chủ chốt trong việc thành lập trường Fulbright. Tất nhiên, không phải chỉ mình ông ấy, mà nhiều nhà lãnh đạo cấp cao khác của VN đã ủng hộ rất mạnh mẽ cho trường.

Mối quan hệ của tôi với ông ấy bắt đầu khi ông ấy tham gia các chuyến tham quan khảo sát đến các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Indonesia (các chuyến khảo sát này được tổ chức vào năm 1990 và 1991). Khi ông Khải chuẩn bị có chuyến thăm lịch sử đến Mỹ với tư cách Thủ tướng VN đầu tiên sau chiến tranh, ông ấy gọi tôi và hỏi” Tommy, ông có thể qua đây nói chuyện với tôi một chút được không?” Tôi trả lời “Vâng, thưa ngài” và tôi bay sang VN gặp ông ấy.

Trong cuộc gặp, ông ấy nói: “Tommy, tôi sắp đến Mỹ và tôi muốn đến thăm Harvard, nhờ Harvard giúp chúng tôi xây dựng trường đại học”.

Khi đó, tôi đã trả lời ông ấy rằng: “Thưa ông Khải, ông không cần phải đến Harvard đâu vì Harvard sẽ không xây trường đại học cho ai cả. Theo tôi, ông cần đến trường Duke. Khi đó, Duke là một đại học rất nổi tiếng và họ đang hứng thú muốn phát triển các kết nối với thế giới theo cách thức khác hẳn Harvard. Harvard không cần kết nối với thế giới bởi vì mọi người đếu muốn đến Harvard. Điều đó thật điên rồ. Và Duke đang nỗ lực làm điều ngược lại”.

“Tommy, cảm ơn ông, nhưng chúng tôi muốn đến Harvard”.

Vậy là tôi sắp xếp chuyến thăm Harvard cho ông ấy. Tại Harvard, chúng tôi gặp một người bạn của GS Dwight Perkins, sau này cũng trở thành bạn của tôi. Đó là GS Henry Rosovsky, một học giả hàng đầu thế giới với quan điểm vì sao các nước đang phát triển cần phải xây dựng hệ thống giáo dục đại học thành công. Rồi chúng tôi trở thành tín đồ của học thuyết của Rosovsky. Do chuyến thăm của ông Khải nên chúng tôi phải đọc cuốn sách phải nghiên cứu mô hình của Rosovsky rồi dịch chúng sang tiếng Việt. Chính nhờ chuyến thăm của Thủ tướng Phan Văn Khải đã khởi đầu cho quá trình gắn bó của chúng tôi với sự nghiệp xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế của VN.

Sau đó, chúng tôi mang kết quả nghiên cứu đến trường New School ở New York. Đây là một trường đại học mà chúng tôi muốn kết nối với VN, bởi vì họ có thể giúp cho VN có cách tiếp cận thực tế hơn, sát với vấn đề mà VN đang phải đối mặt. Chúng tôi kết nối trường New School với VN và viết một vài nghiên cứu bước đầu về cách thức làm sao VN có thể xây dựng được trường đại học đẳng cấp quốc tế.

Từ vài văn bản đề xuất đó thì lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN yêu cầu chúng tôi là “tại sao các ông không thử làm đi?”. Chúng tôi đã bắt đầu ý tưởng xây trường đại học đẳng cấp quốc tế theo cách như vậy. Tất nhiên là ngay cả khi lãnh đạo VN “bật đèn xanh” thì để có được giấy phép vẫn còn phải mất nhiều thời gian. Đây là một vấn đề phức tạp.

Và bởi vì chúng tôi luôn giữ tinh thần phê phán, nên chúng tôi không nghĩ rằng sẽ hiệu quả nếu vẫn duy trì hệ thống quản trị kiểu cũ và thiết lập một hệ thống đại học tư mới cùng song song tồn tại. Không, chúng tôi đã biết rằng cách thức này sẽ không giải quyết được vấn đề và cho đến giờ thực tế chứng minh rằng đúng như vậy. Giờ đây, chúng ta phải xem xét đến mô hình khác. Đây là câu trả lời dài cho một câu hỏi ngắn.

thomas1
Ông Thomas Vallely, “cha đẻ” của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và là người tiên phong cho nỗ lực xây dựng trường đại học Fulbright đẳng cấp quốc tế. Ảnh: Phạm Hải

Phải bước ra khỏi hệ thống cũ

– Không, câu trả lời của ông đã lý giải cho thắc mắc của nhiều độc giả là vì sao ý tưởng thành lập trường đại học đẳng cấp quốc tế đã được Chính phủ cổ xuý từ cách đây gần chục năm mà đến giờ vẫn chưa thành hiện thực.

Tôi nghĩ sáng kiến đó không thành công vì như tôi đã nói, VN chỉ so ta với ta. Họ không bước ra khỏi hệ thống hiện hành để cạnh tranh với thế giới. Họ không có một nhân tố như kiểu Viettel. Viettel đã phá bỏ hệ thống cũ và tạo nên một ngành viễn thông cạnh tranh ở VN.

– Vậy bây giờ, với trường Đại học Fulbright VN (FUV), ông có tham vọng trở thành một “người làm thay đổi cuộc chơi” (game-changer) trong lĩnh vực giáo dục đại học giống như Viettel đã làm được với ngành viễn thông VN?

FUV sẽ là một Viettel.

– Thật không? Làm sao mà ông có thể tự tin đến thế?

Không (cười lớn). Tôi có vẻ hơi tự tin quá mức thật. Ý tôi là chúng tôi mong ước trở thành một “người thay đổi cuộc chơi”. Tại sao tôi lại nói vậy? Ý tôi không phải là để thay thế, mà là ở khía cạnh gây ảnh hưởng.

Viettel không thay thế VNPT mà họ chỉ làm cho VNPT tốt hơn. Tương tự như thế, FUV không thể thay thế hệ thống giáo dục đại học của VN. Hệ thống giáo dục đại học của VN rất lớn và được phân bổ khá tốt. Trường đại học có ở khắp mọi nơi và có rất nhiều sinh viên theo học. Ý tưởng và kì vọng của chúng tôi là FUV sẽ trở thành một nhân tố gây ảnh hưởng để hệ thống giáo dục đại học cải cách tốt hơn, tạo ra những giá trị tốt đẹp hơn.

Và FUV chỉ là một phần rất nhỏ trong tất cả những gì mà VN có thể làm được trong thế kỷ 21.

– Độc giả Kiều Oanh hỏi: Trong bối cảnh công chúng đang thất vọng với chất lượng yếu kém của các trường đại học VN thì FUV làm thế nào để thuyết phục họ rằng đây là trường đại học có chất lượng ngang tầm quốc tế?

Đây là một câu hỏi rất hay. Tôi không biết (cười). Trước hết, Fulbright là một thương hiệu tốt. Hơn nữa, chúng tôi đã tham gia vào ngành giáo dục ở VN được hơn 20 năm rồi. FUV không xây dựng từ hư không mà dựa trên nền tảng thành công của trường Kinh tế Fulbright. Chúng tôi sẽ tiếp tục thử nghiệm với cơ chế mới, mô hình mới, chẳng hạn như mô hình của Henry. Về cơ bản, vấn đề nằm ở hệ thống quản trị. Làm thế nào để quản trị đại học hiệu quả? Làm sao để ra quyết định đúng? Làm thế nào để thu hút được những sinh viên giỏi nhất và giảng viên tốt nhất. Điểm mới ở đây là làm thế nào để làm được những điều đó trong thế kỷ 21, khi mà rất nhiều công nghệ mới đang ra đời.

Bởi vậy, chúng tôi không thể tạo dựng một FUV theo kiểu phiên bản Việt của ĐH Harvard, Oxford, Georgetown, Irvine, Nebraska hay SUNY…Chúng tôi không thể bê nguyên hệ thống đó mang vào áp dụng ở VN bởi vì ngay cả ở Mỹ thì hệ thống đó cũng đang trở nên quá tốn kém và phải tìm đường thay đổi.

Chúng tôi đang cân nhắc cẩn trọng để tìm câu trả lời: Vậy thì một trường đại học hiện đại ở VN sẽ như thế nào? Các phương pháp giảng dạy sẽ ra sao? Chúng tôi tin nó phải khác biệt so với hiện nay, và đó sẽ là một cuộc thử nghiệm. Tôi hay bất cứ ai khác cũng không thể biết đích xác FUV sẽ có hình hài ra sao nhưng tôi biết rằng nó sẽ khác biệt. Chúng tôi sẽ biến nó thành mái nhà của sinh viên, để họ đến đó, học hỏi và có thêm kinh nghiệm.

Kế hoạch của FUV là sẽ tìm kiếm sự chứng thực chất lượng từ các tổ chức khảo thí của Hoa Kỳ. Trong 4 năm đầu tiên, chúng tôi cần dựa vào hệ thống cấp tín chỉ của các trường đại học Mỹ. Sau 4 năm, chúng tôi sẽ tự đăng ký để các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của Mỹ công nhận. Có lẽ điều này có thể trả lời phần nào cho câu hỏi của độc giả, và đó là cách mà chúng tôi khẳng định giá trị trong một hệ thống vốn đang còn thiếu minh bạch và mù mờ về chất lượng hiện tại.

Ông Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình VN tại Harvard, Chủ tịch Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam và nhà báo Việt Lâm. Ảnh: Phạm Hải

Tự chủ đại học không đủ để thay đổi hệ thống quản trị lạc hậu

– Như ông vừa đề cập, một trong những vấn đề cốt lõi quyết định chất lượng của một trường đại học là làm thế nào anh thu hút được những giảng viên và sinh viên tốt nhất. Độc giả Hạ Anh hỏi: Trong quy hoạch, Chính phủ VN đang nỗ lực xây dựng các trường ĐH đẳng cấp quốc tế như Việt Đức, Việt Pháp, Việt Nhật. Dù đã ra đời mấy năm và có sự hậu thuẫn khá mạnh từ Chính phủ nhưng các trường nói trên vẫn chật vật trong vấn đề tuyển sinh. ĐH Fulbight có tham khảo thực tiễn này?

Đây là một câu hỏi hay. Tôi sẽ cố gắng đưa ra một vài suy nghĩ riêng về vấn đề này.

Trước hết, một trong những điều khiến cho FUV không giống với các trường đại học vừa kể trên là mặc dù chúng tôi nhận tài trợ từ chính phủ Mỹ, nguồn tài trợ này không phải là tài trợ từ chính phủ đến chính phủ. Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học VN (TUIV) nhận tài trợ từ chính phủ để xây dựng một trường đại học tư không vì lợi nhuận và chúng tôi hoàn toàn độc lập trong quản trị trường.

Những trường đại học mà bạn vừa kể không phải là ý tưởng tồi. Nó xuất phát từ quan điểm nâng cấp những cái hiện có thay vì tạo ra những thực thể mới. Ý tưởng trung tâm là làm sao để chúng hoạt động tốt hơn. Có thể nói rằng những đầu tư vưà qua của Chính phủ vào các trường này không phải là vô ích.

Đối với FUV, điều mà chúng tôi nỗ lực tìm kiếm là xây dựng một cơ chế quản trị đại học khác biệt với cơ chế hiện hành. Các trường vừa kể vẫn áp dụng cơ chế quản trị kiểu cũ nhưng chúng tôi thì không. Chúng tôi sẽ tạo dựng một cơ chế mới, giống như Viettel đã làm. Viettel không sử dụng cơ chế quản trị của VN mà họ áp dụng cơ chế quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực thế giới. Chúng tôi cũng sẽ thuê những người chúng tôi muốn thuê, dành cho họ đãi ngộ tương xứng với năng lực. Một khi chúng tôi làm được điều đó và một khi tất cả mọi người đều làm như vậy thì chắc chắn đầu tư vào các trường đại học sẽ hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, nhìn chung tôi sẽ nói là các trường đại học hàng đầu ở VN vẫn là các trường công lập. Có thể kể đến các trường đại học chính ở VN như ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM, ĐH Bách Khoa…Đây vẫn là các trường tốt nhất.

Điều may mắn cho VN là hệ thống giáo dục đủ cởi mở và minh bạch trong khâu tuyển sinh nên các sinh viên giỏi nhất vẫn theo học các trường này. Mục tiêu của FUV là làm sao chúng tôi có thể gây ảnh hưởng khiến các đối thủ lớn này gia nhập vào hệ thống hiện đại. Thực tế thì hiện đã có một số trường đầu tư theo hướng đẳng cấp quốc tế bằng cách gửi giảng viên ra nước ngoài đào tạo. Tôi nghĩ đó đều là những hướng đầu tư đúng đắn. FUV chỉ làm khác một xíu là đầu tư vào cơ chế quản trị. Các trường đại học lớn đã nhận được rất nhiều đầu tư từ nhà nước. Vậy làm thế nào để các khoản đầu tư này trở nên giá trị. Tôi tin câu trả lời nằm ở hệ thống quản trị.

– Tức là các trường đại học phải tự chủ?

Không phải là tự chủ. Anh có thể có tự chủ trong mọi hệ thống nhưng anh vẫn phải dùng hệ thống cũ. Tự chủ đại học không làm nên hệ thống quản trị tốt.

– Tôi hỏi ông câu này bởi vì cách đây vài tháng, Bộ Giáo dục ban hành Quy hoạch các trường đại học, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố tự chủ như một chìa khoá của quản trị đại học hiệu quả. Nhiều người ở VN tin rằng tự chủ đại học có thể là giải pháp cho vấn đề hiện tại của hệ thống giáo dục đại học.

Tự chủ là tốt nhưng chỉ có tự chủ không thôi thì không đủ. Tôi đồng tình với quyết định của Bộ Giáo dục bởi tự chủ là cần thiết và đó là một tiến bộ. Nhưng nếu chỉ có tự chủ thì không đủ để thay đổi hệ thống quản trị hiện tại mà giống như một cuộc phi tập trung hoá thì đúng hơn.

Thi tuyển độc lập

– Có thể hơi sớm để đặt câu hỏi này nhưng một số độc giả hỏi ông rằng cơ chế tuyển sinh sẽ được thực hiện ở FUV như thế nào? FUV có sử dụng kết quả kỳ thi tuyển sinh chung của Bộ Giáo dục không?

Không, chúng tôi sẽ tổ chức thi tuyển độc lập. Điều tốt là hệ thống của VN thực sự xác định được những người trẻ thông minh. Phần đó của hệ thống không bị phá vỡ. Cho nên, thách thức lớn của chúng tôi là làm sao có thể thu hút được những sinh viên giỏi, những người đã được nhận vào ĐHQG TP.HCM chẳng hạn. Đấy là những em sinh viên thực sự xuất sắc, và có lẽ đã được thụ hưởng một nền giáo dục tốt ở bậc phổ thông. Làm sao để khiến họ muốn đến học ở FUV thay vì vào các trường khác. Chúng tôi sẽ phải tìm kiếm mọi cách thức có thể.

Theo tôi, giờ là thời điểm mà VN phải bắt đầu suy nghĩ về việc làm thế nào để hiện đại hoá nền kinh tế. Một trong những mấu chốt là làm sao để các trường đại học có thể kết nối được với tương lai của VN và hiểu rõ các vấn đề đang đối mặt. Do đó, dư địa để FUV phát triển còn khá nhiều và chúng tôi sẽ phải cố gắng hết sức để thu hút được những sinh viên chất lượng nhất.

Một trong những lợi thế mà tôi nghĩ FUV có thể có là giáo dục đại học đại cương. Bạn đến đây để học về vật lý, nhưng bạn cũng có thể học về Shakespeare hay Nguyễn Du. Một chương trình giáo dục toàn diện hơn có thể sẽ hấp dẫn được những sinh viên xuất sắc ngành vật lý, sinh học, ngôn ngữ học hay âm nhạc. Tất nhiên, đây mới chỉ là suy nghĩ ban đầu mang tính lý thuyết.

– Tôi muốn tranh luận với ông một chút ở điểm nào. Đúng là một người có học thì cần phải có kiến thức nền rộng, am hiểu không chỉ vấn đề chuyên môn mà cả những vấn đề văn hoá, xã hội khác. Nhưng làm thế nào để cân bằng giữa tính toàn diện, đào tạo ra những con người có học thức với nhu cầu thực dụng của giáo dục đại học, là sinh viên đến trường để học lấy một cái nghề và ra trường có thể xin việc được?

Ồ, đây là một câu hỏi rất quan trọng. Nếu chúng tôi không tìm được hướng đi đúng, FUV sẽ thất bại.

Vì FUV đặt ở TP.HCM nên chúng tôi cần phải đến gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp, gặp chính quyền TP.HCM để tham khảo ý kiến của họ: Các ông muốn chúng tôi giảng dạy những gì cho sinh viên? Chúng tôi cần phải hiểu loại kỹ sư nào, hay ngành khoa học nào mà xã hội đang cần. Đương nhiên, hiện tại chúng tôi chưa hiểu rõ và chúng tôi cần đầu tư vào nghiên cứu, khảo sát kỹ lưỡng để có thể thiết kế đúng một loại hình đại học tạo nên được sự khác biệt trong xã hội.

Theo Vietnamnet

Xem bài gốc tại đây

 

Quái vật đảo Jekyll (Ch.15): Lịch sử ra đời đồng đô la Mỹ

Những hiểu biết về sự ra đời của một đồng đô la Mỹ thực thụ; sự thịnh vượng hình thành sau đó là?

Nguồn: G. Edward Griffin, “The Lost Treasure Map”, in G.E. Griffin, The Creature from Jekyll Island: A Second Look at the Federal Reserve (5th Edition) (California: American Media, 2010), Chapter 15.

Biên dịch: Nguyễn Thị Thu | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nội dung chính: Một trải nghiệm cay đắng về tiền định danh của các thuộc địa Mỹ; quyết tâm của những người khai quốc để ngăn chặn quốc gia mới hình thành sử dụng tiền giấy mà không có (kim loại quý) đảm bảo; việc soạn thảo hiến pháp nhằm mục đích đó; sự ra đời của một đồng đô la Mỹ thực thụ; sự thịnh vượng hình thành sau đó.

Trong thời kỳ vàng son của radio, trên chương trình của Edgar Bergen, ông thường hỏi hình nộm Mortimer Snerd của anh ta rằng “Sao mày có thể ngốc đến thế?”. Và ông luôn nhận được câu trả lời giống nhau. Sau khi suy nghĩ một hồi trong vai Mortimer, ông tự đưa ra câu trả lời “Ừm, cũng không dễ chút nào”.

 

Khi chúng ta nhìn vào những vụ rối loạn tiền tệ xung quanh ta hiện nay – sự bốc hơi giá trị của đồng đô la và sự sụp đổ của các tổ chức tài chính – chúng ta bắt buộc phải hỏi: Làm thế nào chúng ta lại mắc vào tình trạng tồi tệ này? Và thật không may, câu trả lời của Mortimer khá phù hợp.

Để tìm ra làm thế nào chúng ta rơi vào tình trạng hiện nay, điều quan trọng là chúng ta cần biết chúng ta bắt đầu từ đâu và nơi tốt nhất để bắt đầu là Hiến pháp Hoa Kỳ. Trong điều I, mục 8 và 10 viết:

Quốc hội có quyền-

Vay tiền… để đúc tiền, quy định giá trị của đồng tiền đó và giá trị của ngoại tệ, cố định tiêu chuẩn trọng lượng và kích thước; …[và] đưa ra hình phạt cho việc làm tiền giả.

Không bang nào… được đúc tiền, phát hành hóa đơn tín dụng; [hoặc] tạo bất cứ thứ gì ngoài đồng vàng và bạc để thanh toán nợ.

Các nghị sĩ rất chính xác trong việc sử dụng từ ngữ. Quốc hội được trao quyền lực để “đúc tiền”, không phải in tiền. Cuốn Những nguyên tắc của luật hiến pháp (Principles of Constitutional Law) của Thomas M. Cooley giải thích rằng “đúc tiền nghĩa là dập những miếng kim loại để sử dụng làm phương tiện trao đổi trong thương mại theo một giá trị tiêu chuẩn cố định”. Điều bị cấm là “phát hành hóa đơn tín dụng”, thứ mà theo những bài phát biểu và bài viết của những người soạn thảo hiến pháp thì đó là in giấy ghi nợ (IOU), thứ được chủ ý lưu thông như tiền – hay nói cách khác, là việc in tiền định danh mà không được đảm bảo bởi vàng hoặc bạc.

Lúc đầu, có vẻ không gì có thể rõ ràng hơn. Sau đó, chính 2 điều khoản này đã trở thành nền móng cho hàng ngàn trang diễn giải mâu thuẫn nhau. Vấn đề then chốt là trong khi hiến pháp cấm các tiểu bang phát hành tiền định danh, nó không hề cấm cụ thể chính phủ liên bang làm điều đó. Đó thực sự là một thiếu sót vô ý không may của những người soạn thảo hiến pháp, nhưng họ có lẽ không bao giờ mơ thấy trong những cơn ác mộng điên rồ nhất rằng con cháu họ “có thể ngu ngốc đến vậy” đến mức không hiểu được ý định của họ.

Hơn nữa, “không dễ chút nào” nếu muốn hiểu sai ý họ. Tất cả những gì một người phải làm là nhìn vào lịch sử tiền tệ đã dẫn đến Hội nghị Lập hiến và đọc những lá thư được công khai cũng như các cuộc tranh luận của những người đã ký tên lên đạo luật nền tảng đó.

Khi đọc qua các tranh luận của hội nghị, chúng ta sẽ bị ngợp trước sự quan tâm về chủ đề tiền tệ mà các đại biểu mang đến hội nghị. Mỗi người trong số họ có thể nhớ từ trải nghiệm của bản thân về sự hỗn loạn vô cùng ở các thuộc địa (Bắc Mỹ) bị gây nên bởi việc phát hành tiền định danh. Họ kiên quyết phản đối nó một cách rõ ràng, và họ kiên quyết rằng tiền định danh không bao giờ nên được chấp nhận một lần nữa tại Mỹ – ở cả cấp tiểu bang hay liên bang.

Tiền giấy tại các thuộc địa

Trải nghiệm đầu tiên của các thuộc địa về tiền giấy là vào khoảng thời gian 1690 đến 1764. Massachusetts là nơi đầu tiên sử dụng tiền giấy như một công cụ cung cấp tài chính cho các cuộc tấn công quân sự vào thuộc địa Quebec của Pháp. Các thuộc địa khác nhanh chóng làm theo và chỉ trong vài năm, các thuộc địa sa vào việc in quá nhiều “hóa đơn tín dụng”. Không có một ngân hàng trung ương nào tham gia. Quá trình này rất đơn giản và trực tiếp như lý do đằng sao nó. Như một nhà lập pháp thuộc địa đã giải thích:

Thưa các quý ngài, các ngài có nghĩ rằng tôi sẽ đồng ý để cử tri của mình chịu nhiều loại thuế  trong khi chúng ta có thể gửi đến các thợ in và có được cả một toa xe chứa đầy tiền, mà một ít trong đó sẽ đủ chi cho tất cả mọi thứ hay không?[1]

Hậu quả của “sự khôn ngoan” trong quản lý này rất kinh điển. Giá cả tăng vọt, luật về tiền định danh được ban hành để bắt các chính quyền thuộc địa chấp nhận những tờ giấy vô giá trị, và những người dân thường chịu đựng tổn thất và khó khăn cá nhân rất lớn. Đến những năm cuối 1750, lạm phát ở Connecticut đã lên đến 800%, Carolinas là 900%, Massachusetts là 1000%, Rhode Island là 2300%.[2]

Tình thế này đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát đến mức đầu năm 1751, Quốc hội Anh đã vào cuộc và đây là một trong những trường hợp hiếm hoi mà sự can thiệp từ mẫu quốc thực sự có lợi cho thuộc địa, khi nó thúc ép các thuộc địa ngừng in tiền định danh. Từ đó, Ngân hàng Anh là nguồn tiền duy nhất.

Những người ủng hộ tiền định danh đã không lường trước được những điều xảy ra sau đó. Trong bối cảnh ảm đạm về việc “không đủ tiền”, một sự bùng nổ thịnh vượng thần kỳ đã diễn ra. Việc sử dụng ép buộc tiền định danh đã khiến mọi người tích lũy tiền thật của họ và thay vào đó sử dụng những tờ giấy vô giá trị. Bây giờ, khi những tờ tiền giấy đó bị tẩy chay, người dân bắt đầu sử dụng lại những đồng vàng Anh, Pháp và Hà Lan, giá cả nhanh chóng điều chỉnh theo thực thế và thương mại trở lại ổn định. Điều này vẫn được duy trì kể cả trong giai đoạn kinh tế căng thẳng trong cuộc chiến tranh bảy năm (1756-1763) và trong thời kỳ ngay trước cuộc cách mạng Mỹ. Đây là ví dụ hoàn hảo về việc làm thế nào một hệ thống kinh tế cùng kiệt có thể phục hồi nếu nhà nước không can thiệp vào quá trình phục hồi.[3]

Lạm phát thời chiến

Nhưng tất cả điều này bị ngừng lại bởi sự khởi đầu của cuộc nổi dậy thuộc địa. Sự thù địch công khai khiến không chỉ nước Anh phải quay lại cơ chế ngân hàng trung ương, mà nó cũng chính là động cơ buộc các thuộc địa quay về với máy in tiền của họ. Số liệu sau đây tự nó nói lên một cách hung hồn:

  • Vào thời gian đầu của cuộc chiến tranh năm 1775, tổng lượng tiền cung cho các thuộc địa liên hiệp vào khoảng 12 triệu đô la.
  • Vào tháng 6 cùng năm, Quốc hội lục địa phát hành 2 triệu nữa. Trước khi tiền được in, 1 triệu khác đã được phát hành.
  • Tới cuối năm thêm $3 triệu nữa.
  • 19 triệu vào năm 1776
  • 13 triệu vào năm 1777
  • 64 triệu vào năm 1778
  • 125 triệu vào năm 1779
  • Tổng cộng 227 triệu đô la trong năm năm ngoài 12 triệu ban đầu, nghĩa là con số đã tăng 2000%.
  • Ngoài nguồn tiền liên bang này, các tiểu bang hành động tương tự với lượng tiền gần tương đương.
  • Và còn nữa: Quân đội lục địa do không thể nhận đủ tiền từ quốc hội đã phát hành “các giấy chứng nhận” cho việc mua bán hàng hóa lên đến 200 triệu đô-la.
  • 650 triệu đô-la được tạo ra trong năm năm từ cơ sở 12 triệu ban đầu, làm tăng lượng cung tiền lên hơn 5000%.[4]

Mặc dù nền kinh tế bị tàn phá bởi sự tràn ngập tiền định danh, đa số nạn nhân hoàn toàn không nhận ra được nguyên nhân.  Năm 1777, tâm trạng của một bộ phận lớn dân chúng đã được thể hiện qua những ngôn từ của một người phụ nữ già yêu nước: “Thật xấu hổ khi Quốc hội để những người lính nghèo gánh chịu khi họ có quyền tạo ra bao nhiều tiền cũng được”.[5]

Kết quả ngay sau đó của việc bơm tiền này là sự xuất hiện của thịnh vượng. Rốt cuộc, mọi người có nhiều tiền hơn và điều đó được cảm nhận là tốt. Nhưng lạm phát ngay sau đó bắt đầu vận hành như một cơ chế tự hủy diệt. Năm 1775, đơn vị tiền tệ lục địa , được gọi là đồng Continental, được định giá bằng một đô la vàng. Năm 1778, nó được đổi tương đương 25 cents. Đến năm 1779, chỉ bốn năm sau ngày phát hành, nó có giá trị ít hơn một cent và bị ngừng lưu thông hoàn toàn. Cùng năm đó, George Washington đã viết: “Một toa xe tiền không đủ mua được một toa xe hàng”.[6]

Câu nói “Không đáng một Continenal” xuất phát từ thời kỳ đen tối này.

Bản chất thực sự của tác động lạm phát được cảm nhận chính xác và được mô tả sinh động nhất qua cách nói của Thomas Jefferson:

Người ta sẽ hỏi làm thế nào mà hai đống tiền Continental và tiền của các tiểu bang đã tiêu tốn 72 triệu đô của ngưởi Mỹ, khi bây giờ chúng chỉ đổi được với giá khoảng 6 triệu? Tôi xin trả lời rằng 66 triệu chênh lệch đã bị mất qua các tờ tiền giấy nắm giữ bởi những người chủ sở hữu liên tiếp của chúng. Mỗi người, khi tờ giấy bạc qua tay, đã bị mất một lượng giá trị bằng giá trị nó bị mất trong khoảng thời gian nằm trong tay anh ta. Đó là một loại thuế thực sự đối với anh ta; và theo cách này người Mỹ đã thực sự đóng góp 66 triệu đô đó trong suốt cuộc chiến tranh, bằng một loại thuế áp bức nhất vì nó bất công nhất.[7]

Kiểm soát giá và luật tiền pháp định

Hiển nhiên là mọi người cố gắng tìm cách thoát khỏi sự tàn phá đối với khoản tiết kiệm của họ, và hai cách rõ ràng nhất là (1) thường xuyên điều chỉnh giá cả tăng lên khi giá trị của đồng tiền đi xuống, hoặc (2) trao đổi hàng hóa và dịch vụ chỉ nhận đồng vàng. Đáp lại, các cơ quan lập pháp thuộc địa và Quốc hội Lục địa đã làm điều mà các chính phủ luôn luôn làm để ngăn chặn điều đó. Các cơ quan này dựa vào mức lương, kiểm soát giá cả và luật tiền pháp định với mức phạt nghiêm khắc cho việc không tuân thủ. Theo luật này, ai không chấp nhận đồng tiền vô giá trị thậm chí bị gọi là kẻ phản bội. Luật tuyên bố:

Nếu bất cứ người nào từ nay về sau mất đi đạo đức và sự tôn trọng Đất nước đến mức không chấp nhận đồng tiền quốc gia thì sẽ bị coi là kẻ thù của Đất nước.[8]

Rhode Island không chỉ đe dọa một lượng tiền phạt đáng kể cho việc không chấp thuận tiền giấy mà hơn nữa người đó sẽ mất quyền công dân của mình. Khi điều này được tuyên là bất hợp pháp bởi một ban thẩm phán, cơ quan lập pháp đã đáp trả bằng việc sa thải các thẩm phán này.[9]

Lúc đó, cũng như bây giờ, những người phải gánh chịu nhiều thiệt hại nhất từ tiền định danh chính là những người đặt nhiều niềm tin nhất vào chính phủ. Năm 1777, những người này đa số là người thuộc Đảng Whig – những người giữ tiền giấy một cách mù quáng, kết quả là đánh mất sinh kế và khoản tiết kiệm cả đời của họ. Mặt khác, những người theo Đảng Tory (bảo thủ), vốn mất niềm tin vào cả chính phủ và tiền giấy nên đã đổi tiền thành tài sản thực tế, nhất là vàng, càng nhanh càng tốt. Kết quả là họ vượt qua thời kỳ khó khăn tương đối tốt. Nhưng họ thường xuyên bị những người hành xóm kém khôn ngoan mô tả là “những kẻ bảo thủ đầu cơ”, kẻ tích trữ, thậm chí là kẻ phản bội.

Tất cả điều này còn đau đớn nguyên vẹn trong ký ức của các đại biểu tham dự hội nghị lập hiến, và khi phiên khai mạc được triệu tập tại Philadelphia năm 1787, những đám đông giận dữ trên đường phố đã đe dọa các nhà lập hiến. Cướp bóc khắp nơi. Các doanh nghiệp phá sản. Nghiện ngập và vô pháp luật có thể thấy ở mọi nơi. Trái kết của tiền định danh đã chín và các đại biểu không thích vị của nó.

Tháng 10 năm 1785, George Washington đã viết: “Bánh xe của chính phủ đã bị xích lại và….chúng ta đang tiến dần đến thung lũng của sự rối loạn và đen tối”.[10] Một năm sau, trong bức thư gửi James Madison, ông viết: “Chưa có ngày nào u ám hơn hiện tại. Chúng ta đang bên bờ vực vô chính phủ”.[11]

Tháng 2 năm 1787, Washington đã viết cho Henry Knox: “Nếu có bất kỳ ai từng nói với tôi rằng sẽ có sự rối loạn lớn như vậy, tôi đã nghĩ anh ta nên ở trong nhà thương điên.”[12]

Chỉ 3 tháng trước hội nghị, Washington đã lên tiếng nêu ra lý do cho việc bác bỏ ý tưởng về tiền định danh. Để trả lời những phàn nàn rằng không đủ vàng cho nhu cầu của thương mại, ông nói:

Sự cần thiết nổi lên từ ham muốn tiền vàng nhiều hơn thực tế. Tôi cho rằng chúng ta cần chú ý tới thực chất, là thứ chúng ta được lợi, chứ không phải hình thức. Theo thiển ý của tôi, trí tuệ của con người chưa thể đề ra một kế hoạch theo đó tín dụng tiền giấy sẽ nhận được sự ủng hộ lâu dài; kết quả là sự mất giá sẽ tỉ lệ thuận với lượng tiền phát hành và giá các mặt hàng dùng tiền giấy để trao đổi sẽ tăng theo tỉ lệ lớn hơn so với giá trị đi xuống của đồng tiền. Trong đó, liệu người nông dân, người trồng cây, nghệ nhân thủ công có được lợi?

Một điều xấu không kém là cánh cửa mở ngay cho sự đầu cơ, mà theo đó những người thật thà nhất và có lẽ là giá trị nhất trong cộng đồng sẽ trở thành con mồi của những kẻ đầu cơ xảo quyệt và am hiểu hơn.[13]

Hội nghị lập hiến

Đây là cái nhìn phổ biến của đại đa số đại biểu dự Hội nghị. Họ cương quyết tạo ra một hiến pháp ngăn cấm bất kỳ bang nào, đặc biệt là bản thân chính phủ liên bang, được phép phát hành tiền định danh. Và họ nói như vậy bằng các ngôn ngữ không thể nhầm lẫn.

Oliver Ellworth từ Connecticut, người sau này trở thành chánh án thứ ba của tòa án tối cao, nói rằng:

Đây là thời điểm thích hợp để cấm cửa tiền giấy. Những rắc rối từ nhiều trải nghiệm khác nhau hiện còn nguyên vẹn trong tâm trí cộng đồng và nó đang kích thích sự thù ghét của những thành phần khả kính tại Mỹ (đối với tiền giấy).[14]

George Mason từ Virginia đã nói với các đại biểu rằng ông “căm ghét tiền giấy đến chết”. Trước đó ông đã viết cho George Washington: “Họ có thể thông qua một đạo luật để phát hành tiền giấy, nhưng đến 20 đạo luật cũng không đủ khiến người dân chấp nhận nó. Tiền giấy dựa trên sự gian lận và bất lương.”

James Wilson từ Pennsylvania nói: “Việc loại bỏ khả năng phát hành tiền giấy sẽ có tác động tốt đẹp nhất lên uy tín của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”.

John Langdon từ New Hampshired đã cảnh báo rằng ông thà loại bỏ toàn bộ kế hoạch thành lập liên bang hơn là cho phép chính phủ mới phát hành tiền giấy….

Nếu cần thêm bằng chứng về việc những người cha lập quốc có ý định ngăn cấm chính quyền liên bang phát hành các “tờ giấy bạc tín dụng” thì hãy xem xét điều sau đây. Bản dự thảo đầu tiên của Hiến pháp được sao lại phần lớn từ bản Các Điều khoản về Hợp bang (Articles of Confederation) ban đầu. Do đó, khi nó được các đại biểu cân nhắc, nó vẫn chứa những quy định cũ vốn từng gây nhiều rối loạn. Trong đó nói: “Cơ quan lập pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ có quyền vay tiền và phát hành hóa đơn tín dụng”. Nhưng sau một cuộc thảo luận sôi nổi về vấn đề này, điều khoản vi phạm này đã được bỏ phiếu loại khỏi hiến pháp với số phiếu chênh lệch áp đảo.[15] Lên tiếng cho ý kiến của đại đa số đại biểu, Alexander Hamilton đã nói: “Việc phát hành một tờ giấy không có giá trị bảo đảm làm dấu hiệu của giá trị không nên tiếp tục trở thành một phần chính thức trong Hiến pháp, cũng như sau này nó không bao giờ được sử dụng lại; bởi về bản chất nó dễ bị lạm dụng và trở thành động lực lừa dối và gian lận”.[16]

Một tờ báo của Hội nghị ngày 16 tháng 8 có chú thích sau:

Nó đã được bỏ đi và cụm từ “và phát hành hóa đơn tín dụng” đã bị gạch bỏ, và hành động được bỏ phiếu thuận thông qua [Số phiếu bầu chênh lệch rõ ràng với tỉ lệ hơn 4/1].[17]

Tu chính án Hiến pháp thứ mười tuyên bố: “Các quyền không được ủy nhiệm cho Liên bang và cũng không bị Hiến pháp cấm trao cho các tiểu bang, thì được giành cho các tiểu bang, hoặc cho người dân” Quyền phát hành giấy bạc tín dụng hoàn toàn không được ủy nhiệm cho Liên bang, và đặc biệt bị cấm đối với các tiểu bang. Do đó, nếu bất cứ quyền phát hành tiền định danh hợp pháp nào tồn tại, thì nó thuộc về người dân. Nói cách khác, các cá nhân và tổ chức tư nhân, như ngân hàng, có quyền phát hành giấy ghi nợ IOU và hy vọng công chúng sẽ sử dụng nó như tiền, nhưng chính phủ, ở bất kỳ cấp độ nào, rõ ràng bị Hiến pháp cấm làm điều đó.