Bí quyết học thành tài của sinh viên Mỹ

9 bí quyết học tập để đạt được kết quả tốt của sinh viên xuất sắc tại Mỹ. Bạn có thể áp dụng một số cách trong đó.

Nước Mỹ nên có nhiều trường đại học nổi triển và cũng là nơi có những sinh viên sáng tạo và đạt kết quả học tập cực cao. Sau đây là 9 bí quyết học của sinh viên Mỹ.

Bí quyết học thành tài của sinh viên Mỹ

1. Không để bất cứ công việc gì xen ngang vào việc học, một khi đã giở sách vở ra là phải quên đi các chuyện xung quanh mình, bỏ qua các lời rủ rê của bạn bè.

2. Luôn biết tận dụng thời gian một cách hợp lý, các sinh viên giỏi thường quy định giờ giấc làm việc của mình rất chặt chẽ. Nói chung họ rất kiên định trong kế hoạch học tập

3. Luôn sắp xếp gọn gàng nơi học tập, mọi thứ đều phải sắp đặt ngăn nắp sao cho có thể với tay là lấy được khi cần, điều này rất quan trọng vì sẽ tiết kiệm được thời gian không làm gián đoạn việc học.

4. Rèn luyện cách đọc sách, cách đọc nhanh rất bổ ích, không chỉ đọc nhiều từ mà còn biết cách nhìn vào mục lục, sơ đồ trước tiên, như thế sẽ có một ý niệm chung về nội dung chủ yếu của cuốn sách, vì vậy sẽ nhớ lâu. Theo Gordon W Green “ Người biết đọc sách là người luôn tự đặt ra cho mình những câu hỏi để hiểu ý tác giả muốn nói gì..”

5. Phải lập ra một chương trình học tập, có lập thời gian biểu, chia công việc thành nhiều phần nhỏ và cố gắng hoàn thành từng phần một, càng sớm càng tốt để ôn tập lại. Nhất là khi kỳ thi đã đến gần.

6. Biết cách ghi chép ở lớp học. Điều quan trọng là phải ghi những điều thầy cô nhấn mạnh trong khi giảng bài, phải ghi đầy đủ những điều ấy khi nghe giảng, vì đó là vấn đề then chốt để làm bài tập và tốt nhất là ghi lại vài câu tổng kết trước khi tan học.

7. Làm bài tập thật rõ ràng cẩn thận, các thầy cô thường có cảm tình đối với những bài làm sạch sẽ, gọn gàng.

8. Không ngại nêu thắc mắc trong lớp học, khi chưa hiểu bài chủ động hỏi ngay tại lớp, vấn đề càng mở rộng càng nhớ lâu và hiểu sâu, kết quả cao phụ thuộc vào mức độ hiểu biết vấn đề, không chỉ trả lời đủ câu hỏi kiểm tra.

9. Thường xuyên trao đổi với bạn bè những gì mình chưa hiểu. Thảo luận với nhau về vấn đề vướng mắc, trình bày các giải pháp để cùng nhau giải quyết, những sinh viên muốn độc lập học hành đã tiêu phí thời gian vô ích khi tự giải quyết vấn đề khó khăn một mình mà không chia sẻ trao đổi cùng với bạn bè.

Jane Nguyễn (sưu tầm)

Bài viết đăng tại: http://hocbonghay.com/bai-viet/

Phạm Hải Chung – ‘Tủ rượu’ hay ‘tủ sách’?

Năm 2012, trong một chuyến đi thực tế, một anh phóng viên hỏi một ông nguyên tổng biên tập người Đan Mạch về việc làm sao để Việt Nam phát triển như các nước Bắc Âu? Ngay lập tức, ông thì thào trả lời “đọc sách” với rất nhiều hàm ý.

Năm 2012, trong một chuyến đi thực tế, một anh phóng viên hỏi một ông nguyên tổng biên tập người Đan Mạch về việc làm sao để Việt Nam phát triển như các nước Bắc Âu? Ngay lập tức, ông thì thào trả lời “đọc sách” với rất nhiều hàm ý.

Châu Âu có cuộc dịch thuật vĩ đại vào thế kỷ 11 – 12, làm nền tảng phát triển khoa học, văn hóa và phổ cập tri thức cho mọi tầng lớp xã hội. Trong ngôi nhà của họ, qua nhiều thế hệ, không thể thiếu một tủ sách. Dễ dàng nhận ra sách cũng là món hàng thiết yếu đối với họ. Các dịch vụ vận chuyển phân phát sách của Amazon vẫn tấp nập như việc giao sữa, phát báo mỗi sáng. Mỗi cuốn sách được coi như một sản phẩm chắt lọc mà mỗi người có thể nhận được những giá trị riêng tùy thuộc vào nhận thức của bản thân. Nói như nhà văn nổi tiếng người Mỹ Edmund Wilson, “không có chuyện hai người cùng đọc một cuốn sách giống nhau”. Theo nghiên cứu của Eurostat năm 2011, người Bắc Âu như Phần Lan, Thụy Điển đọc khoảng 12 cuốn sách mỗi năm.

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2013, người Việt Nam trung bình không đọc được một cuốn sách mỗi năm. Tôi nói tới đây chắc sẽ có nhiều người đổ lỗi cho các phương tiện nghe nhìn lấn át. Không ai phủ nhận Internet như một cái chợ tự do về thông tin, tra cứu kiến thức. Truyền hình bùng nổ các nội dung giải trí đang thống trị thời gian rỗi của con người. Trong “ngôi làng toàn cầu”, nhiều người tìm đến sách điện tử bởi sự tiện lợi, tuy nhiên nhìn xung quanh chúng ta, bao nhiêu người Việt Nam dùng điện thoại smartphone, Ipad để đọc sách. Người dùng đang dần trở thành nô lệ của công nghệ thay vì trở thành người tạo ra công nghệ, nếu không có thói quen tiếp nhận tri thức của nhân loại thông qua sách vở. Tại một buổi hội thảo, một CEO phương Tây nói rằng anh ta không ngại sử dụng chiếc điện thoại Nokia rẻ tiền với chức năng nghe gọi cơ bản, nhưng sợ không đọc những cuốn sách hay và tự loại bỏ mình khỏi những cuộc đàm luận thú vị với bạn bè, đồng nghiệp.

Sách nói ở đây không chỉ những tiểu thuyết giải trí, mà cả những tác phẩm cung cấp tri thức và các loại sách chuyên khảo. Tôi nhiều lần nhận được bài tập của sinh viên mà trong danh sách tham khảo không quá nổi ba cuốn chuyên khảo, và chỉ lật vài trang tôi biết được xào từ Internet. Nói rộng hơn, nhiều trí thức còn lười đọc sách thì đông đảo người dân xa lạ với sách là điều dễ hiểu.

Chúng ta biết rằng 40% chủ nhân các giải Nobel chính là người Do Thái, và bí quyết của họ là tạo thói quen đọc sách cho trẻ em từ nhỏ. Họ thậm chí còn ướp nước hoa lên sách để hấp dẫn trẻ em. Bàn về văn hóa đọc của người Việt Nam, nhiều người thường ví “tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái. Trong nhiều ngôi nhà ở Việt Nam, tủ rượu thường xuất hiện “bề thế” ở những nơi dễ nhìn thấy; trong khi tủ sách có thể không được dành cho một vị trí nào, dù là khiêm tốn.

Cuộc dịch thuật vĩ đại văn hóa và tri thức của phương Tây có thể được ví như mang lửa văn minh về khai sáng, khiến văn hóa đọc của họ bùng nổ, để có sự phát triển khiến thế giới nể trọng ngày nay. Nói như nhiều học giả, sách là nền tảng để chấn hưng đất nước. Nhà thơ, nhà văn Mỹ gốc NgaJoseph Brodsky cho rằng: “Có những tội nặng hơn chuyện đốt sách. Một trong những tội đó là không đọc sách!”.

Theo vnexpress

Xem bài gốc tại đây

Việt – Mỹ cần xây dựng “nền tảng chiến lược”

Từ Hà Nội đến TP.HCM, từ Washington đến Boston, những cuộc gặp gỡ, trao đổi, ký kết đưa ra nhiều chỉ dấu hứa hẹn mối quan hệ đối tác toàn diện sẽ phát triển mạnh mẽ.

Những hoạt động kỷ niệm 20 năm Việt Nam – Mỹ bình thường hóa mối quan hệ đã bắt đầu.

Từ Hà Nội đến TP.HCM, từ Washington đến Boston, những cuộc gặp gỡ, trao đổi, ký kết đưa ra nhiều chỉ dấu hứa hẹn mối quan hệ đối tác toàn diện sẽ phát triển mạnh mẽ.

Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Pete Peterson và cựu Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Văn Bàng (từ trái qua phải) trò chuyện thân mật trước khi buổi hội thảo bắt đầu - Ảnh: NGUYỄN KHÁNH
Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Pete Peterson và cựu Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Văn Bàng (từ trái qua phải) trò chuyện thân mật trước khi buổi hội thảo bắt đầu – Ảnh: NGUYỄN KHÁNH

Trong năm 2014, hai nước đã tiến hành 11 cơ chế đối thoại trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, phát triển, dân chủ, nhân quyền và lao động. Việt Nam xem mối quan hệ Việt – Mỹ là quan hệ “đối tác toàn diện”, trong khi ở Mỹ là “đối tác chiến lược toàn diện”.

Với những mối liên lạc và kênh hợp tác ngày càng dày đặc, liệu đã có một “nền tảng chiến lược” giữa Việt Nam và Mỹ? “Nền tảng chiến lược” được hiểu như một sự “bén rễ” mang tính lâu dài, nhấn mạnh sự thấu hiểu và kỳ vọng lẫn nhau về bản chất của mối quan hệ song phương – không chỉ theo nghĩa hẹp là hợp tác về quân sự.

Hiểu theo nghĩa đó, câu trả lời có lẽ là chưa. Bởi vì mối quan hệ hiện tại chủ yếu tập trung vào trao đổi thương mại, công tác ngoại giao và hợp tác quốc phòng mang tính giới hạn. Một cuộc đối thoại tư tưởng theo nghĩa “bén rễ” các thang giá trị, nguyên tắc hành xử trong xã hội, hình dung về hiện tại cũng như con đường phát triển tương lai giữa hai quốc gia vẫn còn đang trong quá trình khởi động và còn nhiều “dư địa” tiềm năng.

Cuộc đối thoại tri thức – tư tưởng giữa hai quốc gia không những là một phần của sự trao đổi văn hóa mà còn là sự hiểu biết lẫn nhau về nhân sinh quan, cách sống và cả tổ chức xã hội, hoạt động kinh tế và điều hành chính sách.

Hiểu được hệ thống chính trị của Mỹ – cả về mức độ phức tạp lẫn quy trình ra quyết định chính sách – sẽ giúp các đối tác Việt Nam biết được “đường đi nước bước” khi làm việc với chính giới và doanh nghiệp Mỹ, cũng như không bất ngờ trước những hành động hay lời nói, đôi khi “kỳ lạ”, ở bên kia bờ đại dương.

Ngược lại, tận mắt thực địa tình hình xã hội của Việt Nam, hay hiểu cội nguồn cách lý giải của những lựa chọn chính sách là cách thức để các giới của Mỹ – cả chính khách, doanh nghiệp lẫn các nhà tri thức, học giả – hiểu, chia sẻ và đồng thuận hơn với những bước đi của Việt Nam nói riêng, và quan hệ Việt – Mỹ nói chung.

Đó còn là phương thức tốt nhất để điều chỉnh và dung hòa những bất đồng hiện tại, và là cầu nối tư duy rút ngắn những dị biệt tương lai.

Những khởi động đầu tiên cho thấy hai bên đang xây dựng nền tảng ban đầu. Sau khi bình thường hóa quan hệ năm 1995, số lượng du học sinh Việt Nam tại Mỹ tăng vọt. Đến năm 2014, con số này là hơn 16.500 sinh viên.

Chương trình Fulbright – như một cầu nối giữa sinh viên, học giả và giới tri thức – và ĐH Fulbright hiện tại là dấu ấn lớn nhất trong những nỗ lực thúc đẩy quan hệ giáo dục. Đây cũng xem như một “bài học thành công” cho các dự án khác đang thành hình.

Một dấu ấn khác là nỗ lực thấu hiểu lẫn nhau theo kênh “người dân với người dân” thông qua Sáng kiến về hạ lưu sông Mekong (Lower Mekong Initiative – LMI). Từ năm 2009, nông nghiệp và an ninh lương thực được bổ sung vào trọng tâm của LMI.

Mỹ và Việt Nam là đồng chủ tịch trong trụ cột về môi trường và nguồn nước của LMI. Tại Cần Thơ, Trà Vinh, Tiền Giang, Long An, Bến Tre…, những ý tưởng đang được kết nối tìm sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam không chỉ với các vấn đề kỹ thuật, mà còn là định hình quan điểm và thế giới quan về “thách thức biến đổi khí hậu” trong tương lai.

“Nền tảng chiến lược” từ con người, vì con người và cho con người là nền tảng vững chắc nhất để hai nước đi tiếp những chặng đường sắp tới.

Theo Tuổi Trẻ

Xem bài gốc tại đây