10 trường đại học của Hoa Kỳ tốt nhất cho ngành y tá

Y tá là một trong những ngành được trả mức lương khá cao sau khi ra trường, tuy nhiên để trang bị cho mình kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn vững vàng đòi hỏi mỗi cá nhân cần lựa chọn môi trường giáo dục chất lượng. 

Gần đây, College Factual đã cho ra danh sách 10 trường đào tạo ngành y tá tᶰớc Mỹ để các bạn tham khảo.

1. MOLLOY COLLEGE

Mức lương trung bình trong giai đoạn khởi điểm và giữa sự nghiệp tương ứng: $ 70,000 và $ 91,000

2. NEW YORK UNIVERSITY

Sinh viên tốt nghiệp đại học New York được chuẩn bị tốt để vào nghề, hầu hết các sinh viên đều vượt qua kỳ thi cấp giấy phép cho các y tá trong lần đầu tiên và có mức lương khởi điểm khoảng $ 71,000.

3. SIMMONS COLLEGE

Các sinh viên được đào tạo thực hành ngay trong bệnh viện, trạm ý tế, các trung tâm chăm sóc sức khỏe nên có kiến thức nền tảng vững vàng để tr%ng để trở thành một y tá giỏi. Sinh viên ra trường có thể đạt mức lương trung bình giai đoạn giữa sực nghiệp khoảng $ 79,000

4. UNIVERSITY OF PENNSYLVANIA

Chương trình điều dưỡng Penn tìm vị trí trong một loạt các trung tâm chăm sóc sức khỏe, làm cho $ 63,000 ở cấp nhập cảnh và $ 87,000 vào giữa sự nghiệp.

5.  DREXEL UNIVERSITY

Mức lương trung bình trong giai đoạn khởi điểm và giữa sự nghiệp tương ứng: 63,000 và  $ 76,000.

6. VILLANOVA UNIVERSITY

Mức lương khởi điểm cho sinh viên mới ra trường rơi vào khoảng $ 63,000.

7. FAIRFIELD UNIVERSITY

Sinh viên tốt nghiệp từ chương trình điều dưỡng làm cho tiền lương đầu sự nghiệp trung bình $ 62,000.

8. AZUSA PACIFIC UNIVERSITY

Mức lương khởi điểm trung bình cho một sinh viên tại Azusa là $67.000, ngoài ra trường còn cung cấp các lớp học trực tuyến và sau đại học để sinh viên có nhiều sự lựa chọn hơn cho việc đầu tư vào giáo dục của họ.

9. JOHNS HOPKINS UNIVERSITY

Mức lương trung bình trong giai đoạn khởi điểm và giữa sự nghiệp tương ứng: $ 56,000 và $ 73,000

10. GEORGE WASHINGTON UNIVERSITY

Sinh viên tại đây tốt nghiệp với mức lương khởi điểm khoảng $ 64.000.

Tham khảo từ usatoday

Xem bài gốc tại đây

 

10 nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng nhất mọi thời đại

Những thành tựu và đóng góp của họ không chỉ có lợi cho “sức khỏe” của nền kinh tế đương thời, mà còn giúp tạo đà phát triển cho kinh tế ngày nay.

Kinh tế đóng vai trò rất lớn đối với chất lượng cuộc sống của mọi người chúng ta và các nhà kinh tế là những người có tác động quan trọng tới các chính sách kinh tế được ban hành cũng như sự vận hành của nó.

Dưới đây là danh sách 10 nhà kinh tế có tầm ảnh hưởng nhất mọi thời đại do The Complete University Guide (Anh) bình chọn.

1. Adam Smith (1723–1790)

Nhà kinh tế chính trị học Adam Smith. Nguồn: YouTube

Adam Smith là một nhà triết học và là nhà kinh tế chính trị học người Scotland, người mở đường cho phát triển lý luận kinh tế. Ông nổi tiếng với cuốn sách “The wealth of nations” (tạm dịch là “Nguồn gốc của cải của các quốc gia”) xuất bản năm 1776.

Đây là một trong những tác phẩm ra đời sớm nhất và nổi tiếng nhất về thương mại và công nghiệp, được xem là tạo nên nền tảng cho các nguyên lý và chính sách kinh tế trên thế giới.

Adam Smith kịch liệt phản đối chủ nghĩa trọng thương và ủng hộ cho tự do thương mại và cạnh tranh, chính điều này là một thách thức đối với những hàng rào thuế quan bảo hộ đương thời.

Các tư tưởng kinh tế của Adam Smith cũng ảnh hưởng tới các quốc gia mậu dịch khác và Adam Smith xứng đáng được gọi là “Người cha của kinh tế học hiện đại.”

2. Karl Marx (1818–1883)

Karl Marx là nhà tư tưởng người Đức gốc Do thái, và cũng là nhà kinh tế chính trị kinh điển, nhà lãnh đạo cách mạng của Hiệp hội Người lao động Quốc tế. Ông là một học giả có ảnh hưởng lớn trong nhiều lĩnh vực học thuật như triết học, kinh tế chính trị học, xã hội học, sử học…

Khi phát triển cách tiếp cận kinh tế học theo chủ nghĩa Marx, ông đã tạo ra những thuật ngữ của riêng mình như: giá trị thặng dư, tái sản xuất, tư sản và vô sản, chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Ông cũng chính là người sáng tạo ra thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản”. Những đóng góp của Marx đối với sự phát triển kinh tế đương đại ngày càng được công nhận rộng rãi.

3. John Maynard Keynes (1883–1946)

Nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes. (Nguồn: pbs.org)

John Maynard Keynes là một nhà kinh tế học người Anh. Những ý tưởng của ông, hình thành nên Kinh tế học Keynes, có ảnh hưởng lớn tới kinh tế học hiện đại và chính trị, cũng như các chính sách tài chính của nhiều chính phủ.

Ông cho rằng sự can thiệp của chính phủ vào kinh tế là cần thiết để làm giảm đi những ảnh hưởng bất lợi do suy thoái hay bùng nổ kinh tế. Keynes có vai trò rất lớn trong việc giảm những ảnh hưởng bất lợi do cuộc Đại khủng hoảng (1929-1933) gây ra.

Chính sách Keynes đã “tái xuất” trong cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây, nhất là tại nước Anh, nơi Bộ trưởng Tài chính Gordon Brown đã áp dụng biện pháp kích thích kinh tế để đối phó với khủng hoảng.

Ông Keynes là người khai sinh kinh tế học vĩ mô hiện đại và là nhà kinh tế có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20.

4. Milton Friedman (1912–2006)

Milton Friedman là một nhà kinh tế học người Mỹ đoạt giải Nobel năm 1976 nhờ những đóng góp trong phân tích chi tiêu tiêu dùng, lịch sử và lý luận tiền tệ, giải thích sự phức tạp của các chính sách ổn định kinh tế.

Là người ủng hộ thị trường tự do, ông đã có những đóng góp quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế học vĩ mô, kinh tế học vi mô, lịch sử kinh tế và thống kê.

Quan điểm của ông về chính sách tiền tệ, thuế khóa, tư nhân hóa và giảm bớt sự can thiệp của chính phủ đã có tác động to lớn tới chính sách của nhiều nước trên thế giới.

5. Jan Tinbergen (1903–1994)

Jan Tinbergen là nhà kinh tế học người Hà Lan, đã được trao giải Nobel kinh tế trong năm 1969 cùng với Ragnar Frisch vì đã phát triển và áp dụng các mô hình động trong phân tích các quá trình kinh tế.

Ông được coi là người tiên phong trong lĩnh vực toán kinh tế, việc áp dụng các mô hình kinh tế vĩ mô nhằm giúp các nước đưa ra các chính sách kinh tế quan trọng. Phương pháp này đang được áp dụng trong nghiên cứu kinh tế hiện nay.

6. John Forbes Nash, Jr. (1928–2015)

John Forbes Nash là một nhà toán học người Mỹ với chuyên ngành lý thuyết trò chơi và hình học vi phân. Các học thuyết của ông được sử dụng trong kinh tế, điện toán, trí tuệ nhân tạo, sinh học tiến hóa, kế toán và chính trị.

Năm 1994, ông nhận được giải thưởng Nobel về kinh tế cùng với hai nhà lý thuyết trò chơi khác là Reinhard Selten và John Harsanyi.

Hiện nhà kinh tế học quá cố John Nash được xếp vị trí số 1 trong những nhà kinh tế học từng được giải Nobel có đóng góp vĩ đại nhất đến phát triển nhân loại.

7. Muhammad Yunus (1940)

Muhammad Yunus, một nhà kinh tế học người Bangladesh. (Nguồn: social.yourstory.com)

Muhammad Yunus, một nhà kinh tế học người Bangladesh, là người phổ biến khái niệm tín dụng vi mô (cho những người dân rất nghèo vay các khoản tín dụng nhỏ) và là người sáng lập Grameen Bank (Ngân hàng nông thôn).

Grameen Bank tuy không hoạt động theo nguyên tắc khai thác lợi nhuận tối đa nhưng định hướng làm ăn có lãi, với 97% khách hàng của ngân hàng này là phụ nữ.

Năm 2006, Muhammad Yunus được đồng trao tặng Giải Nobel Hòa bình với chính ngân hàng của ông. Ông còn được gọi là “nhà bảo trợ” người nghèo và tín dụng vi mô đang được áp dụng tại nhiều nước đang phát triển nhằm giảm tỷ lệ đói nghèo.

8. Steven D. Levitt (1967)

Steven D. Levitt là nhà kinh tế học người Mỹ và được biết đến từ khi còn rất trẻ. Anh nhận huân chương John Bates Clark năm 2003 khi 36 tuổi. Đây là huân chương dành cho những nhà kinh tế học dưới 40 tuổi đã có những đóng góp quan trọng về tri thức kinh tế.

Ông nổi tiếng vói tác phẩm “Kinh tế học hài hước” (Freakonomics với đồng tác giả là nhà báo Stephen J. Dubner), cuốn sách bán chạy nhất theo bình chọn của New York Times – với hơn 4 triệu bản được dịch ra 35 thứ tiếng, thực sự là cuộc cách mạng trong tư duy khiến bất cứ ai từng đọc qua cũng phải thay đổi cách nhìn nhận về thế giới xung quanh.

Tuy không viết theo một chủ đề thống nhất và cũng không đưa ra một kết luận cụ thể nào, nhưng cuốn sách đã mang lại một cách nhìn mới về xã hội.

Cuốn sách xuất bản năm 2005 này đã sử dụng khoa học kinh tế như một bộ công cụ để khám phá, giải thích các vấn đề xã hội mà các nhà kinh tế truyền thống không đề cập tới.

9. Warren Buffett (1930)

warren-buffett-doanhnhansai
Tỷ phú Warren Buffett. (Nguồn: thehill.com)

Warren Edward Buffett là một nhà đầu tư, doanh nhân và nhà từ thiện người Mỹ. Ông là nhà đầu tư thành công nhất thế giới thế kỷ XX, cổ đông lớn nhất kiêm giám đốc hãng Berkshire Hathaway, và được tạp chí Forbes xếp ở vị trí người giàu thứ ba thế giới năm 2015, với tài sản chừng 73 tỷ USD.

Ông được gọi là “Huyền thoại đến từ Omaha”, rất nổi tiếng do sự kiên định trong triết lý đầu tư theo giá trị, sự tài giỏi về quản trị tài chính, cũng như lối sống tiết kiệm dù sở hữu khối tài sản khổng lồ. Năm 2007, ông được tạp chí Time đưa vào danh sách “100 người nhiều ảnh hưởng nhất thế giới.”

10. Alfred Marshall (1842-1924)

Marshall là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh, sinh ra tại London. Marshall có thể là một trong những nhà kinh tế ít được biết tới nhất trong số các nhà kinh tế học vĩ đại bởi ông không phải là tác giả của bất cứ một lý thuyết kinh tế kinh điển nào.

Tuy nhiên, ông rất đáng được vinh danh bởi những nỗ lực nhằm áp dụng phương pháp toán học vào kinh tế, biến kinh tế học thành một môn khoa học thực sự chứ không chỉ mang tính triết học đơn thuần.

Marshall đã phải mất gần 10 năm để hoàn tất tác phẩm “Principles of Economics” (tạm dịch là “Những nguyên lý cơ bản của Kinh tế học”) vào năm 1890.

Cuốn sách này được công nhận là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ông, là một trong những cuốn sách giáo khoa kinh tế có tầm ảnh hưởng nhất ở nước Anh trong nhiều năm.

Trong cuốn sách này, những mô hình đường cung, đường cầu, chi phí biên, lợi nhuận biên…, đã được tập hợp và biểu hiện một cách hệ thống và logic, làm nền tảng cho các mô hình kinh tế sau này.

Theo Doanh Nhân Sài Gòn

Xem bài gốc tại đây

Công bố với thế giới cách điều trị ung thư mới

Suốt 10 năm qua, tiến sĩ Nguyễn Hồng Vũ (34 tuổi, cựu sinh viên Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM) đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu hướng điều trị ung thư mới: sử dụng vi khuẩn thay cho hóa trị, xạ trị.

hongvu_UEXF
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Vũ trong phòng thí nghiệm tại Hàn Quốc – Ảnh: H.V
Vừa rẻ vừa đặc hiệu
Sau khi tốt nghiệp ngành công nghệ sinh học tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, Vũ tìm kiếm cơ hội đi du học. Lọt qua những vòng phỏng vấn gắt gao, Vũ trúng tuyển vào chương trình “Học bổng toàn phần của giáo sư” thuộc Trường ĐH Quốc gia Chonnam – Hàn Quốc. Từ năm 2006, anh bắt đầu sang xứ sở kim chi phụ giúp công việc nghiên cứu cho Giáo sư Min Jung-joon. Bù lại, anh được vị giáo sư này trả lương để trang trải cuộc sống cũng như các loại học phí.
Nguyễn Hồng Vũ hoàn tất chương trình thạc sĩ vào năm 2008. 4 năm tiếp theo, anh lấy bằng tiến sĩ ngành ứng dụng sinh học phân tử trong y khoa. Sau đó, anh làm việc cho phòng thí nghiệm của Giáo sư Min Jung-joon như một nhân viên chính thức, với vai trò là postdoc (nghiên cứu sau tiến sĩ).
Nguyễn Hồng Vũ đã cho công bố với thế giới một công trình rất giá trị do anh làm chủ nhiệm, đó là nghiên cứu về một hướng điều trị ung thư mới: Sử dụng vi khuẩn đường ruột Salmonella thay vì dùng hóa trị, xạ trị như thông thường. Tiến sĩ Vũ cho hay, trước tiên vi khuẩn Salmonella được làm đột biến các gien nguy hiểm để trở nên yếu đi. Mặt khác, vi khuẩn này mang thêm gien phát sáng để có thể dễ dàng định vị trong quá trình điều trị. Tiếp đó, các vi khuẩn này sẽ mang gien độc tố ClyA đến những khối u đó và tiêu diệt tế bào ung thư.
Công trình này đã được công bố trên Cancer Research – một tạp chí chuyên ngành có uy tín hàng đầu trên thế giới về nghiên cứu ung thư. Các công trình được đăng trên tạp chí này phải qua một loạt các vòng đánh giá của các giáo sư hàng đầu trên thế giới về lĩnh vực này để chứng minh rằng đây là công trình nghiên cứu mới, có giá trị khoa học cao.
Theo tiến sĩ Vũ, phương thức điều trị này có ưu thế là đặc hiệu hơn so với những phương pháp truyền thống. Anh giải thích: “Sau khi vi khuẩn được xác định là tích tụ trong khối u, đường L-Arabinose sẽ được tiêm vào cơ thể để kích thích vi khuẩn tạo độc tố ClyA trong khối u và tiêu diệt tế bào ung thư. Lúc đó, những cơ quan khỏe mạnh khác sẽ không bị ảnh hưởng bởi cách thức điều trị này”. Không những vậy, theo anh Vũ, việc nuôi vi khuẩn để điều trị ung thư rẻ hơn rất nhiều lần so với sử dụng hóa trị hoặc xạ trị.
Hiện tại, công trình này đang được thử nghiệm trên loài chuột và bước đầu thu được những kết quả khả quan. Tiến sĩ Vũ cho hay, ngày 23.1, anh sang Mỹ làm việc ở Viện Nghiên cứu City of Hope nhằm hoàn thiện, phát triển phương pháp điều trị mới này. Tiến sĩ Vũ cũng cho biết, chưa thể nói trước khi nào thì có thể áp dụng phương pháp điều trị này cho người, bởi từ thử nghiệm đến thực tế còn cả một chặng đường dài và cam go.
Đồng cảm với bệnh nhân
10 năm sống ở Hàn Quốc, anh Nguyễn Hồng Vũ rèn luyện vốn tiếng Hàn khá tốt. Chính vì vậy, thỉnh thoảng anh được mời làm phiên dịch cho những bệnh nhân ung thư ở VN sang Bệnh viện Hwasun (Hàn Quốc) khám và điều trị. Trong số đó, anh nhớ mãi một bệnh nhân trẻ tuổi từ TP.HCM sang. Em này bị u não, đã được các chuyên gia y tế Hàn Quốc phẫu thuật lấy được khối u ra và sống khỏe đến tận bây giờ. Tuy nhiên, trường hợp này vẫn để lại trong anh không ít day dứt, bởi gia đình em đã phải mượn nợ rất nhiều mới có khả năng chữa bệnh cho em.
Ngoài ra, đây là một ca may mắn ít ỏi trong số rất nhiều bệnh nhân khác anh Vũ từng giúp đỡ và đã chứng kiến họ phải qua đời vì căn bệnh ung thư quái ác. Từ sự đồng cảm đó, trong anh càng thôi thúc suy nghĩ: nếu tạo ra một phương thức mới điều trị ung thư trong tương lai thì có thể giúp ích cho những bệnh nhân ung thư, nhất là giảm được rất nhiều chi phí cho bệnh nhân nghèo ở VN và ở các nước khác.
Được biết, trong thời gian học tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, Nguyễn Hồng Vũ đã nổi tiếng khi thực hiện thành công một công trình nghiên cứu thuộc loại hóc búa: “Bắt” hoa hồng nở trong ống nghiệm. Mặc dù vậy, khi sang Hàn Quốc, anh thừa nhận bản thân cũng gặp nhiều khó khăn. Anh trải lòng: “Thực ra, 6 tháng đầu tiên qua đó tôi đã rất bỡ ngỡ với những kỹ thuật phòng thí nghiệm hiện đại. Tôi đã lao vào học từ người này người kia, tự tìm tòi, làm quen với những công nghệ mới… Bởi vì giữa lý thuyết mình học được so với thực tế chênh nhau rất lớn. Sau khi có được nền tảng, tôi bắt đầu đeo đuổi, cải tiến nghiên cứu của những người đi trước và quyết tâm làm cho ra những nghiên cứu mới”. Tiến sĩ Vũ chia sẻ thêm: “Trong nghiên cứu, nhiều khi thử nghiệm 10 cái, 50 cái, 100 cái thất bại mới có thể ra được thành công thì đó cũng là chuyện bình thường”.
Được biết, bà xã của anh Vũ là tiến sĩ trẻ Phan Xuân Thúy (32 tuổi). Tuy khác nhau về niên khóa nhưng hai người từng học cùng ngành cùng trường bậc đại học ở VN cũng như các bậc học nâng cao tại Hàn Quốc. Thêm vào đó, hai người còn có chung công trình nghiên cứu (cùng chủ nhiệm đề tài với một người Hàn Quốc) về tương tác của vi khuẩn dùng điều trị ung thư với sự phản ứng của hệ miễn dịch cơ thể. Công trình này vừa được đăng trên một tạp chí uy tín lớn trên thế giới về nghiên cứu “chẩn đoán kết hợp điều trị” Theranostics.
“Niềm trăn trở của tôi trong lúc này là làm sao để những cái mình đã, đang và sẽ tìm tòi khám phá trong tương lai có thể giúp ích được cho quê hương mình nói riêng và cho nhân loại nói chung”, anh Vũ khẳng định.
Theo Thanh Niên
Xem bài gốc tại đây