Vì sao sinh viên Mỹ ít sang Việt Nam trao đổi học tập?

Theo Open Doors, hiện có 18.722 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Hoa Kỳ, trong khi chỉ có khoảng 1.000 sinh viên Hoa Kỳ đang học tập tại Việt Nam. Chúng ta cần làm gì để rút ngắn khoảng cách giữa hai xu hướng?

Rào cản chi phí và các rủi ro…

Tại hội thảo “Trao đổi sinh viên Hoa Kỳ với các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” do Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam và tổ chức Student Exchange Việt Nam tổ chức ngày 12/10, hơn 150 đại diện đến từ các tổ chức giáo dục, cơ sở đào tạo Hoa Kỳ và Việt Nam đã tập trung thảo luận về các chiến lược thu hút sinh viên Hoa Kỳ đến học tập, trao đổi tại Việt Nam; đồng thời khuyến khích các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đẩy mạnh hoạt động thiết kế, triển khai chương trình trao đổi sinh viên.

Khoảng cách giữa 2 xu hướng sinh viên Việt Nam đến Mỹ học và ngược lại hiện nay rất lớn. Đề cập đến nguyên nhân của thực trạng này, trong phần thảo luận với diễn giả quốc tế, một nữ giảng viên Trường ĐH Kinh tế HCM đặt câu hỏi: “Kinh nghiệm của trường chúng tôi cho thấy, những trường Hoa Kỳ hầu như không cởi mở với các chương trình trao đổi sinh viên. Hầu hết các trường Hoa Kỳ đã có chương trình cho học sinh của mình và họ tự tổ chức các chuyến tham quan học tập đưa học sinh đi.

Khi chúng tôi hỏi trường Hoa Kỳ về mong muốn đón nhận sinh viên Hoa Kỳ sang Việt Nam thì các trường đều trả lời là… quá đắt để họ có thể làm chương trình như vậy. Tôi muốn biết lí do thực sự mà các trường này không muốn gửi học sinh sang Việt Nam là gì?

Giải đáp thắc mắc của nữ giảng viên Việt, ông Jonathan Lembright, Giám đốc khu vực Đông Nam Á, Viện Giáo dục quốc tế (IIE) đồng tình khẳng định “bản thân chi phí đắt đỏ là yếu tố cản trở lớn học sinh/ sinh viên Hoa Kỳ sang các nước khác học tập, trong đó có Việt Nam”.

“Hoa Kỳ không ép sinh viên phải ra nước ngoài học. Hệ thống giáo dục nước Mỹ đặc biệt và khác biệt. Ở Mỹ không có Bộ Giáo dục như Việt Nam; các trường đại học có quyền tự chủ rất lớn.

visao1-1476408379460
Ông Jonathan Lembright và bà Anne Talavera chia sẻ về kinh nghiệm, chiến lược để thúc đẩy sinh viên Mỹ sang Việt Nam học tập qua các chương trình trao đổi sinh viên.

Những rào cản lớn khiến học sinh, sinh viên Mỹ ngại ra nước ngoài học bắt nguồn từ suy nghĩ của rằng, việc ra học nước ngoài chỉ là chương trình bổ sung và các em lại phải tiêu thêm tiền (thường là đắt đỏ), bỏ thêm thời gian để tham gia các chương trình như vậy”, ông Jonathan Lembright lí giải về thực trạng cứ 10 sinh viên Mỹ mới có 1 sinh viên trải nghiệm nền giáo dục quốc tế.

Thêm vào đó, các “rủi ro” về việc quy đổi, chấp nhận tín chỉ sau khi hoàn thành chương trình học; chất lượng đào tạo; mức độ phù hợp giữa chương trình học và nguyện vọng… cũng khiến sinh viên Hoa Kỳ ngại sang học tập tại Việt Nam.

Thu hút sinh viên Mỹ đến Việt Nam, cần chiến lược gì?

Bà Anne Talavera, giảng viên tiếng Anh Đại học quốc gia Lào, hiện công tác tại Đại sứ quán Hoa Kỳ đã giải đáp vấn đề trên trên bằng việc tập trung vào mối quan tâm của sinh viên Hoa Kỳ khi ra nước ngoài học tập.

Theo bà Anne, để hấp dẫn sinh viên Hoa Kỳ, các trường đại học Việt Nam phải đảm bảo các yếu tố: chương trình học có thương hiệu, được phê duyệt, công nhận; hỗ trợ cần thiết cho sinh viên quốc tế và quảng bá hình ảnh trường trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đó cũng chính là mối quan tâm của các cơ sở đào tạo Hoa Kỳ khi gửi sinh viên của họ tham gia chương trình trao đổi học tập ở nước ngoài, trong đó có Việt Nam.

Giống như sinh viên khắp thế giới đến nước Mỹ vì chương trình học tập ở đây từ lâu có thương hiệu nổi tiếng chất lượng, muốn thu hút sinh viên Mỹ, Việt Nam cũng cần cung cấp cho sinh viên Mỹ và gia đình họ thông tin rõ ràng về chương trình đào tạo, đặc điểm nổi bật để họ tin tưởng rằng, chương trình mà họ sẽ theo đuổi là uy tín và phù hợp nguyện vọng.

Làm sao sinh viên Mỹ có thể nhận ra trường chúng ta và lựa chọn theo học trong một tập hợp nhiều ngôi trường? “Thủ tục visa, phỏng vấn, hồ sơ, nhập học, tài chính… là các vấn đề mà người học quan tâm nhất trước khi quyết định lựa chọn.

Do đó, chúng ta phải giúp sinh viên Mỹ liên hệ được với các nhà tư vấn để họ được giải đáp thắc mắc. Đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nhà tư vấn phải là người/ tổ chức thực sự sẵn lòng để giúp sinh viên tiếp cận với thông tin. Các sự kiện trao đổi, giới thiệu văn hóa cũng rất cần thiết để sinh viên có thể hiểu rõ bối cảnh văn hóa ở quốc gia họ chọn theo học”, bà Anne Talavera khẳng định.

Các hoạt động đón tiếp, định hướng, hỗ trợ sinh viên quốc tế chu đáo cũng sẽ giúp các trường ĐH Việt Nam “ghi điểm”. Hoạt động định hướng thực hiện trong 2-3 ngày sẽ giúp sinh viên Mỹ hòa nhập với môi trường Việt Nam dễ dàng hơn, xây dựng mối quan hệ học đường, từ đó tạo môi trường học tập, sinh sống thuận tiện cho người học nước ngoài.

Nhà trường có thể tổ chức các hội thảo văn hóa, học thuật, phổ biến thông tin khóa học, quy định, khuyến khích sinh viên tham gia hoạt động xã hội. Cho họ biết, tổ chức sinh viên quốc tế/ tổ chức thể thao/ tổ chức văn hóa ở trường chúng ta…

Bà Anne lưu ý, dù sang Việt Nam trao đổi học tập với mục đích gì (ví dụ học đại học chính quy, chuyến thực địa, nghiên cứu, thực tập, tình nguyện, hội thảo, trao đổi văn hóa, trải nghiệm và củng cố hiểu biết cá nhân…) thì sinh viên Hoa Kỳ cũng rất muốn chương trình họ tham gia được công nhận, chứng nhận.

Đồng thời, nhà nước cũng cần cung cấp các dịch vụ/ bộ phận hỗ trợ nhập cư, học thuật, y tế… để đảm bảo họ không cảm thấy bị “cô lập” khi đặt chân sang Việt Nam học tập.

Ông Jonathan Lembright – Giám đốc khu vực Đông Nam Á, Viện Giáo dục quốc tế thì cho rằng: “Cách tốt nhất để giảm thiểu khoảng cách giữa 2 xu hướng, thu hút sinh viên Mỹ đến Việt Nam nhiều hơn là các tổ chức/ cá nhân/ hiệp hội giáo dục ở Hoa Kỳ tích hợp các chương trình đào tạo ở Việt Nam vào nước họ và cho sinh viên sang Việt Nam trao đổi học tập theo học kỳ. Một khi sự liên kết, hợp tác giữa 2 phía được thúc đẩy thì lúc đó hoạt động trao đổi sinh viên Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ khởi sắc.

Ông Jonathan cho biết, khi được hỏi về lí do sinh viên Mỹ nên sang Việt Nam học tập, một số sinh viên Mỹ từng đến Việt Nam đã trả lời rằng phần học thuật có thể họ chưa tiếp nhận được nhưng trải nghiệm văn hóa – xã hội ở Việt Nam thì thực sự đáng quý (dù chỉ trong 1-2 tháng).

Theo Giám đốc Viện Giáo dục Quốc tế khu vực Đông Nam Á, Việt Nam cần chứng minh rằng mình có nhiều điều kiện hơn để đón tiếp các sinh viên quốc tế hơn nữa. Chẳng hạn, qua các chương trình học bổng hỗ trợ nhóm sinh viên yếu thế, thiểu số ở Mỹ sang học tập.

“Và quan trọng hơn cả, quý vị phải có sự thay đổi, kì vọng, chương trình đào tạo chất lượng, phù hợp để sinh viên Mỹ cảm thấy thực sự bị thu hút. Chẳng hạn như ở Mexico, sinh viên Mỹ lựa chọn đến đất nước này không phải là nhiều học bổng mà là các chương trình học phù hợp với sinh viên”, ông Jonathan Lembright khẳng định.

Theo Dân Trí

 

Châu Thanh Vũ – Du học bằng niềm tin?

1.

“Nhà em không có điều kiện, học lực em chỉ thuộc dạng khá, em có tham gia hoạt động ngoại khóa nhưng không nhiều, nhưng em tin em sẽ đi du học được. Anh chỉ cách cho em được không ạ?”

Đó là câu hỏi mà các bạn trẻ hay inbox hỏi tôi dạo gần đây. Tôi rất thường muốn viết những điều có thể truyền cảm hứng cho các bạn trẻ để các bạn cố gắng, nhưng trước khi làm điều đó, hãy để tôi đính chính lại một điều để các bạn rõ ngay và luôn: ngay cả con em nhà có điều kiện, học lực giỏi, tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa đôi khi cũng rất khó được nhận vào các trường ĐH Mỹ, đặc biệt là các trường top đầu.

Điều đó có nghĩa là, khi gia đình bạn không có điều kiện, học lực và hoạt động ngoại khóa chỉ tàm tạm, bạn tuyệt đối không thể du học chỉ bằng niềm tin và mơ ước.

2.

“Nếu vậy”, có lẽ các bạn đang tự hỏi, “tại sao trên báo luôn có nhiều câu chuyện nghèo, tự ti, vượt khó, gia đình không điều kiện được mưa học bổng từ các ĐH Mỹ?” Hay nói một cách khác, chắc các bạn đang phân vân những cái tên như Tôn Hà Anh, Đỗ Liên Quang, hay Châu Thanh Vũ,… làm sao mà đến được vị trí hiện tại?

Câu trả lời khá đơn giản: đằng sau cơn “mưa học bổng” và các bảng thành tích mà các bạn đọc được trên mặt báo là rất nhiều cố gắng trong suốt một thời gian dài mà có lẽ vài trăm chữ trên báo không thể nào nói hết được.

Do đó, khi mặt báo đang tràn ngập các câu chuyện thành công về “thanh niên vượt khó học giỏi,” những câu chuyện ấy vô hình dung đang phản tác dụng, khiến các bạn tin rằng du học rất dễ, và chỉ cần tự tin là đủ.

Đây là một suy nghĩ hết sức nguy hiểm.

Nếu ai cũng có thể du học với học bổng toàn phần chỉ bằng niềm tin, thì nước Việt Nam này đã có hàng triệu du học sinh rồi! Sự thật là chỉ một vài người thực sự đạt được mục đích du học cho thấy rằng có hàng triệu người mơ ước, nhưng chỉ có một vài người biến ước mơ thành hiện thực.

Riêng tôi, tôi biến giấc mơ du học của mình thành hiện thực bằng cách luôn tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn, có thể đạt được trước mắt thay vì mơ ước viễn vông xa vời; không quá tự tin vào bản thân, và luôn biết mình đang ở đâu.

3.

Mơ ước du học đầu tiên của tôi là khi còn là học sinh tiểu học. Lúc đó, bố bảo tôi rằng “nhà mình không có điều kiện nên nếu con muốn du học, con phải tự lo kiếm học bổng.” Gần 10 năm sau đó, tôi gác lại ước mơ du học để tập trung vào các mục tiêu gần, thực tế với mình hơn.

Tôi học cấp 2 ở tỉnh Ninh Thuận. Năm lớp 6, tôi tham gia hội chữ thập đỏ ở địa phương vì bạn bè tôi rủ, và vì họ dạy mật mã Morse và Semaphore – 2 thứ mã tôi rất say mê. Tôi tham gia thi cờ vua cấp trường và cấp thành phố dù chỉ là dân không chuyên, ở nhà đánh cờ không lại hàng xóm. Tôi thức đêm viết hàng chục trang dự thi nhiều cuộc thi lớn nhỏ như “An toàn giao thông,” “Học tập tấm gương Hồ Chí Minh,” “Viết thư UPU,” “English and Me,” etc.

Hồi đó tôi tham gia nhiều cuộc thi như thế có vì chuẩn bị cho du học đâu. Đơn giản chỉ là những cuộc thi đó là những cái đích nhỏ, gần, và dễ đạt của tôi. Và đến khi tôi viết đơn xin học bổng du học thì những cuộc thi này đã không còn đủ ý nghĩa để tôi có thể tự tin viết vào đơn nữa, nhưng phải công nhận rằng nếu tôi đã không đi những bước nhỏ trước thì đã không bao giờ đi những bước xa hơn.

Những cuộc thi nhỏ này đã rèn luyện cho tôi khả năng tập trung suy nghĩ dưới áp lực của thời gian, khả năng viết lách, kinh nghiệm thức trắng đêm để cố làm hoàn hảo một bài dự thi, tinh thần đầu tư 100% công sức để làm điều mình ưa thích, và hàng tá kĩ năng khác mà đã giúp ích tôi phần nào trong các cuộc thi sau này (thi vào chuyên tin Năng Khiếu, thi HSG quốc gia, viết luận xin học bổng, phỏng vấn học bổng UWC, vân vân). Có thể bạn không tin, nhưng đối với tôi, tôi luôn tin rằng mình đã lớn lên một ít từ việc tham gia những thứ nhỏ nhặt nhất trong đời.

Do đó, nếu bạn đang kiếm đường đi du học vì bạn đang cảm thấy bế tắc, hay chán ghét giáo dục Việt Nam, hay vừa thi trượt đại học,… thì bạn hãy đầu hàng ý tưởng đó và làm chuyện khác thiết thực hơn. Đó là vì du học không phải là một giải pháp tạm thời để bạn vượt qua bế tắc, càng không phải thứ bạn có thể đạt được trong một hai ngày hay một hai năm. Ngược lại, du học là thành quả của sự không ngừng trau dồi bản thân, không ngừng học tập từ những cái nhỏ nhất qua một thời gian dài.

4.

Nếu bạn đã bao giờ có suy nghĩ “dù khó, tôi tự tin tôi chắc chắn sẽ làm được,” tôi nghĩ bạn nên đi chậm và suy nghĩ lại về sự tự tin của mình.

Có lẽ mỗi người có suy nghĩ khác nhau, nhưng bản thân tôi chưa bao giờ dám nghĩ rằng mình sẽ làm được điều gì đó 100%. Khi bạn tự tin đến thế, tôi nghĩ nhiều khả năng bạn đang đánh giá quá cao khả năng của bản thân, hoặc đang đánh giá quá thấp những khó khăn mà bạn đang đối mặt, hoặc cả hai.

Hãy nhớ rằng đối với bất cứ ai, tự tin là một điểm mạnh, còn tự tin thái quá lại là một điểm yếu.

5.

Lần tới khi bạn đọc báo về một câu chuyện học sinh Việt Nam được nhiều học bổng, hãy đừng đọc xem học bổng trị giá bao nhiêu tiền, hay người học sinh ấy đạt được những thành tích nào. Hãy cố đọc xem họ đã từng trải qua những khó khăn gì, và họ đã làm gì để vượt qua những khó khăn ấy. Nếu một bài báo không viết về những điều này, bài báo ấy chỉ đang được viết bởi những phóng viên đời cũ muốn trang trí bài bằng những thông tin hào nhoáng mà thôi.

Cuối cùng, cho những bạn đang định đi du học chỉ bằng niềm tin: các bạn hãy dừng lại đi. Hãy ngồi xuống và nghĩ thiết thực hơn: gia cảnh khó khăn và học lực không giỏi sẽ có nghĩa là xuất phát điểm của bạn thấp hơn bình thường. Điều này có nghĩa là bạn sẽ phải cố gắng rất nhiều lần để đạt được mục tiêu du học của mình. Hãy tự hỏi, (1) bạn cần bao nhiêu thời gian, và (2) bạn có đủ kiên nhẫn và ý chí để đi quãng đường dài đó không.

Nhớ là, hãy đừng tự tin thái quá.

Châu Thanh Vũ

Xem bài gốc tại đây