Hội thảo tại Harvard: Lựa chọn chính sách cho sự phát triển của Việt Nam

8 giờ 30 sáng ngày 5.1.2015 giờ Boston, Mỹ tức  8 giờ 30 tối 5.1.2015 giờ Việt Nam, tại ĐH Harvard sẽ diễn ra hội thảo chuyên đề Lựa chọn chính sách cho sự phát triển của Việt Nam giai đoạn 2016-2020.

Theo thông tin từ ban tổ chức, Hội thảo sẽ quy tụ những học giả danh tiếng, am hiểu về Việt Nam như giáo sư Ngô Bảo Châu, GS Trần Ngọc Anh, TS.Huỳnh Thế Du… để thảo luận về chính sách, đưa ra khuyến nghị về định hướng phát triển bền vững cho Việt Nam trong 5 năm tới.

Hội thảo cũng sẽ tường thuật trực tuyến audio trên kênh youtube

Thông tin chi tiết về hội thảo:

vietnam development symposium flyer

 

Thị trưởng Phạm Đình Nguyên: “Đôi khi bạn cần phải điên…”

Phạm Đình Nguyên là một trong những doanh nhân Việt luôn “tạo sóng” với những ý tưởng “điên điên” – từ việc mua thị trấn Mỹ tạo cơn sốt truyền thông cách đây 2 năm, đổi tên thị trấn Mỹ đình đám cho đến cú tiếp thị không gian ngoạn mục năm rồi. 

PhamDinhNguyen_1415260796

* Xin chúc mừng thị trưởng đã “gây náo loạn” thành công ở chợ Bến Thành. Ý đồ của ông là gì?

(Cười). Thực tình tôi không ngờ một ý tưởng nhỏ nhưng lại đem lại hiệu quả lớn. Chúng tôi chỉ muốn ra quân một cách khí thế. Chúng tôi muốn bắt đầu ở chợ Bến Thành mang tính chất biểu tượng của kênh bán hàng truyền thống.

Khi tôi đến đó gặp gỡ và mời các tiểu thương uống thử cà phê hòa tan PhinDeli, rất là bất ngờ hầu hết họ nhận ra tôi. Có người còn nói đùa: “Hôm nay ông thị trưởng đến đây làm gì đây?”

Bạn thấy đấy, nếu tôi không mua thị trấn Mỹ thì dễ gì mọi người ở đây biết đến tôi. Khi họ biết tôi như vậy, họ đã sẵn lòng mua hàng ủng hộ PhinDeli.

* Sẵn nói đến Buford, xin ông vui lòng cho biết, thị trấn hiện nay như thế nào?

Về mặt cơ bản thị trấn vẫn không thay đổi. Nghĩa là chỉ có một cư dân, nó vẫn tiếp tục được gọi là “Thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ”. Đây cũng là điều hấp dẫn du khách, đặc biệt là từ sau sự kiện “Người Việt mua thị trấn Mỹ” và đổi tên thành thị trấn cà phê Việt PhinDeli. Và người quản lý thị trấn vẫn là ông Don Sammons.

Đầu năm nay, ông chủ cũ đã giới thiệu cuốn sách Buford One, được nhiều người đón nhận – cũng ít nhiều tạo thêm danh tiếng cho thị trấn PhinDeli. Nhà xuất bản ở Việt Nam cũng đã làm việc để dịch cuốn sách này nhưng cho đến nay cũng chưa thỏa thuận được, nên sách dịch vẫn chưa ra. Tác giả sách đã trò chuyện với tôi hơn 8 tiếng để viết thêm 2 chương mới cho sách.

Có một vài thay đổi nhỏ liên quan đến thị trấn. Chúng tôi đã thay đổi hình ảnh 3 pa-nô dẫn vào thị trấn, sử dụng ý tưởng bức tranh tường thị trấn cà phê (bên trong cửa hàng tiện lợi), bao gồm: trồng, chế biến và thưởng thức. Nhiều người rất thích ý tưởng thiết kế này.

* Nhìn lại vụ mua bán “làm nước Mỹ tỉnh giấc” cách đây 2 năm, ông có đánh giá như thế nào về vụ mua bán lịch sử của mình?

Đôi khi ngồi nghĩ lại, tôi thấy chuyện xảy ra quá nhanh, như một cuốn phim vậy. Một người Việt như tôi tự nhiên làm chủ một thị trấn Mỹ, trở thành một sự kiện truyền thông quốc tế có thể nói đình đám nhất trong năm đó. Chưa hết, một năm sau đó tôi lại chính thức đổi tên Buford thành thị trấn cà phê Việt PhinDeli, bắt đầu một hành trình giới thiệu cà phê Việt vào thị trường Mỹ. Toàn những chuyện tày đình. Nhiều người cho đến giờ vẫn nói tôi điên. Tôi nghĩ, đôi khi bạn cần phải điên chỉ để chứng minh một điều: không gì không thể!

* Có bao giờ ông cảm thấy quyết định đó là sai không?

Nói thật, có nhiều lúc tôi cảm thấy chao đảo như thể mình đã quyết định sai theo kiểu bốc đồng. Nhất là khoảng thời gian mua xong thị trấn mà chưa có một kế hoạch gì cụ thể cho Buford. Tôi không dám gặp ai. Vì gặp ai họ cũng hỏi “Sao rồi ông thị trưởng”.

Sau khi tung ra PhinDeli, tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Tôi bị cuốn hút vào các hoạt động của PhinDeli từ việc sản xuất, phân phối cho đến tiếp thị cà phê rang xay. Vì vậy nên không còn thời gian cho những lúc chao đảo nữa.

Tôi nghĩ, đôi khi bạn cần phải điên chỉ để chứng minh một điều: không gì không thể!

* Gần đây PhinDeli có tung ra cà phê hòa tan. Ông không tập trung vào “tinh hoa cà phê Việt” như những lời có cánh khi tung ra cà phê rang xay? Và cà phê hòa tan PhinDeli có gì đặc biệt?

Ngay từ đầu khi đặt tên công ty/thương hiệu, chúng đã nhấn đến chữ Phin. Rõ ràng là chúng tôi muốn giới thiệu tinh hoa cà phê Việt. Cho đến giờ định hướng này cũng không thay đổi.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy rằng, người tiêu dùng nói chung vì cuộc sống bận rộn nên vẫn muốn sự tiện lợi. Vì thế chúng tôi mới giới thiệu 2 loại cà phê hòa tan: cà phê đen 2in1 và cà phê sữa 3in1.

Đối với nhóm cà phê hòa tan này, điểm khác biệt lớn nhất là chúng tôi sử dụng 100% cà phê Việt theo công nghệ trích ly từ phin – nên cho bạn một hương vị cà phê phin đích thực, dù uống nóng hay uống đá.

Nhiều người bảo vội thì không thể ngon. Nhưng với cà phê hòa tan PhinDeli, tôi muốn chứng minh: bạn vẫn có thể thưởng thức cà phê ngon kể cả khi bạn vội. Không gì không thể!

* Trong ngày tung sản phẩm người ta thấy Ban Giám đốc DKSH cùng sát cánh với ông? Vai trò của DKSH là gì, thưa ông?

DKSH là đối tác phân phối phát triển thị trường của chúng tôi. Đây là tập đoàn làm dịch vụ phân phối hàng đầu thế giới về số lượng đội ngũ nhân viên, quản lý chuyên nghiệp, hỗ trợ hậu cần…

Khi chúng tôi đến DKSH đặt lời mời họ trở thành đối tác hỗ trợ phân phối, mở rộng thị trường thì Ban Giám Đốc rất là hào hứng. Mặc dù là thị trường cà phê hòa tan rất cạnh tranh nhưng họ tin vào chất lượng sản phẩm cũng như cách tiếp thị sáng tạo của PhinDeli.

Vì vậy, khi tôi đề nghị Ban Giám Đốc DKSH cùng tham dự Lễ tung hàng và cùng ra quân tại Chợ Bến Thành thì mọi người rất hào hứng, hăm hở lên xe tập kích vào chợ – tạo ra một tinh thần “Không gì không thể” trong đội ngũ các anh em bán hàng.

* Chiến lược truyền thông cho PhinDeli và kế hoạch tung hàng như thế nào?

Nói thật là chúng tôi không có nhiều ngân sách. Chúng tôi chỉ dựa vào chất lượng sản phẩm và khả năng sáng tạo ra thông điệp hấp dẫn. Chúng tôi tạo ra một câu chuyện hay được kể một cách mộc mạc, chân thành.

Chúng tôi không có tiền để phát sóng, quảng cáo rầm rộ theo kiểu cưỡng bức, dội bom như những thương hiệu anh đại khác. Thay vào đó, chiến lược truyền thông của chúng tôi là tạo ra những nội dung thương hiệu hấp dẫn. Khi đó khách hàng sẽ tự nguyện thưởng thức, tương tác, rồi chia sẻ cho những người khác.

* Một số chuyên gia tiếp thị có ý so sánh ông với Sir Richard Branson, chủ tịch tập đoàn Virgin. Người sáng lập này luôn tạo ra những câu chuyện giật gân, hấp dẫn cho báo chí. Ông có đi theo hình mẫu đó không?

Tôi cũng rất ngưỡng mộ những doanh nhân như Richard Branson, Steve Jobs. Họ là những người dám nghĩ, dám làm. Dám đeo đuổi những điều không thể.

Tôi không chắc là những cái tôi có giống với ông chủ của Virgin hay không. Có một điều là, tôi muốn tạo một niềm cảm hứng cho những bạn trẻ. Hãy bước ra ngoài “tấm chăn êm” làm điều mình muốn, để sau này mình không có phải hối hận khi nói “giá mà ngày ấy…”

Theo SGDN

GS Mỹ: Lương giảng viên VN từ 183–368 USD

“Báo cáo cập nhật giáo dục đại học tháng 7/2014” từ 7 ngành khoa học kỹ thuật tại 14 trường ĐH lớn của Việt Nam do các GS Hoa Kỳ thực hiện đã đưa ra một số quan sát đáng lưu tâm, đặc biệt là những vấn đề về đội ngũ giảng viên.

GS Mỹ: Lương giảng viên VN từ 183–368 USD
Giáo dục ĐH VN đã có nhiều thay đổi so với các năm 2006 và 2007 nhưng vấn đề giờ lên lớp của cả giảng viên lẫn sinh viên vẫn chưa được cải thiện đáng kể. Nguồn ảnh: Internet

“Cơ chế cận huyết”

Đoàn nghiên cứu đưa ra thuật ngữ mới, tạm gọi là “khuynh hướng vùng miền” (regionalism) để chỉ thực tế sinh viên theo học tại trường ĐH gần nhà mình nhất, rồi giảng dạy tại trường đó sau khi tốt nghiệp, học tiếp chương trình sau đại học cũng tại trường đó, và nếu làm kinh doanh cũng tuyển nhân viên tốt nghiệp từ chính trường mình.

Báo cáo lý giải: Hiện tượng này có thể bắt nguồn từ văn hóa gia đình và dòng họ lâu đời. Trong quá trình phỏng vấn, một số sinh viên nói rằng đã dựa vào sự hỗ trợ của gia đình, kể cả mặt tài chính lẫn tình cảm, trong khi số khác cho hay mình còn có trách nhiệm với gia đình, do vậy không muốn đi học quá xa nhà. Một số ít bày tỏ mình không muốn giảng dạy ở trường khác hay chuyển tới một vùng khác của VN.

Khi trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ về so sánh việc các trường ĐH tự tạo nguồn tại chỗ giống như những cuộc hôn nhân cận huyết thống, GS Ngô Bảo Châu(ĐH Chicago, Mỹ) cho biết, đây là cách làm ngược, một số trường có vẻ cũng đang làm khá hiệu quả, nhưng trên bình diện quốc gia thì rất dở. Hôn nhân “cận huyết” khiến hầu hết các ngành khoa học của VN đang đi xuống, học trò không có điều kiện để giỏi hơn thầy.

Các GS giải thích, tại Hoa Kỳ, khuynh hướng vùng miền dẫn tới quan hệ cận huyết trong học thuật (in-breeding).

Điều này được cho là làm hạn chế việc trao đổi ý tưởng và phương pháp tiếp cận mới, cũng như gây bất lợi cho cá nhân, trường đại học cũng như nghiên cứu trong một lĩnh vực cụ thể.

Đánh giá “xu hướng này không dễ thay đổi”, báo cáo đã đề xuất các giải pháp như tổ chức hội nghị, hội thảo chuyên ngành, mở các khóa học mùa hè, tăng cường sự tham gia diễn giả quốc tế….để các giảng viên được tăng cường tương tác với nhau.

Lương thấp, dạy nhiều

Đây là báo cáo thứ 3 về giáo dục ĐH VN do Qũy Giáo dục Việt Nam thực hiện.

Theo báo cáo năm 2014, giáo dục ĐH VN đã có nhiều thay đổi so với các năm 2006 và 2007, như học thuộc lòng đã được thay thế bằng mô hình học tập tích cực; hầu hết SV có máy tính cá nhân và truy cập internet, chương trình có thay đổi…Nhưng một vấn đề chưa được cải thiện đáng kể,đó là giờ lên lớp của cả giảng viên lẫn sinh viên vẫn quá nhiều.

Phương pháp học tập tích cực (làm việcnhóm, thảo luận) đòi hỏi giảng viên phải dành nhiều thời gian giảng dạy. Các giảng viên cho rằng phương pháp học tập tích cực phù hợp với lớp có sĩ số khoảng SV, nhưng thực tế với lớp học 70 – 150 SV như hiện nay sẽ trở thành thách thức cho giảng viên khi không  trợ giảng.

Các tác giả của báo cáo 2014 nhận thấy, 2 báo cáo trước đều lo ngại việc sinh viên phải hoàn thành quá nhiều tín chỉ để tốt nghiệp do không có đủ thời gian để tiếp thu và nghiên cứu những nội dung đã học. Tuy nhiên đến nay, dường như số giờ lên lớp của SV không giảm đi, số giờ lên lớp của phần lớn giảng viên lại tăng lên.

Cụ thể, năm 2007, Bộ GD-ĐT chuyển từ hệ đào tạo theo đơn vị học trình sang hệ tín chỉ (1 tín chỉ lại tương đương 1.5 đơn vị học trình). Một chương trình đào tạo trước đây yêu cầu 180 đơn vị học trình thì bây giờ là 120 tín chỉ với thời lượng lên lớp gần như ngang bằng nhau, dù số giờ thực hành, làm việc trong phòng thí nghiệm, đi thực tập đã được tính trong số tín chỉ.

Theo phản hồi của các điều tra, lương trung bình của giảng viên có bằng cử nhân là 183 USD/tháng, 250 USD/tháng (thạc sĩ) và 368 USD (tiến sĩ); còn mức lương trung bình của cán bộ quản lý là 407 USD.

“Tuy nhiên, lương cũng chưa nói lên thu nhập. Lương của giảng viên tại VN được tính theo số giờ lên lớp, chính vì vậy các giảng viên có xu hướng dạy quá nhiều, dạy thêm ở các trường khác” – báo cáo viết.

Có một “điểm nhấn” là lương của giảng viên chương trình tiên tiến cao hơn đáng kể, nhưng cả nước chỉ có 34 chương trình này.

Thu nhập khiêm tốn từ nghiên cứu

Trong phiếu điều tra trực tuyến, 95% giảng viên cho biết họ tham gia nghiên cứu, còn cán bộ quản lý cho rằng 66% giảng viên tham gia hoạt động này.

“Ngay cả khi con số 95% là cường điệu, phải ghi nhận thực tế rằng việc nghiên cứu đã phát triển hơn so với những năm 2006 – 2007” – báo cáo viết.

Do đó, giảng viên có thêm thu nhập từ nghiên cứu. Cán bộ quản lý các trường cho biết 49% nghiên cứu ở trường được nhà nước hỗ trợ kinh phí, 33% từ nguồn của nhà trường, 25% từ doanh nghiệp và 30% từ các nguồn tài trợ khác (phiếu điều tra cho phép lựa chọn nhiều hơn 1 nguồn trong phần trả lời).

Khuyến nghị cải thiện thu nhập

Nhà nước sẽ thưởng tiền không quá 30 lần mức lương cơ sở chung cho giảng viên nếu công bố được 1 bài báo trên tạp chí khoa học quốc tế uy tín trong danh mục ISI, SCI, SCIE. Đây là một nộidung của Nghị định quy định việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục ĐH mà Chính phủ vừa ban hành.

Nhận thấy ngân sách tăng lương hạn chế, các tác giả của bản báo cáo đã khuyến nghị những pháp như: giảm số giờ giảng dạy nhưng không giảm lương, khen thưởng giảng viên có thành tích nghiên cứu, duy trì giờ hướng dẫn SV, lấy việc đánh giá giảng viên (ý kiến đánh giá của SV và đánh giá ngoài) để xét tăng lương, nâng bậc, minh bạch hóa quy trình nâng bậc, cất nhắc qua website nhà trường.

Đoàn nghiên cứu cũng kiến nghị xem xét giảm bớt một số môn không cần thiết ra khỏi chương trình đào tạo, không nên bỏ môn cơ bản của các ngành khoa học kỹ thuật dù có thể chưa được ứng dụng ngay, mà nên bỏ môn không liên quan tới khoa học kỹ thuật hoặc kỹ năng mềm.

7 ngành: Khoa học Nông nghiệp, Kỹ thuật Xây dựng, Khoa học Máy tính, Điện – Điện tử – viễn thông, Khoa học Môi trường, Vật lý, Giao thông Vận tải.Thực hiện tại 14 trường ở Hà Nội, TP.HCM, Thái Nguyên, Cần Thơ.

Nhóm nghiên cứu: Các tác giả TS Isaac F.Silvera (trưởng đoàn), ĐH Havard, TS. J.Scott Angle (ĐH Geogia), TS Bruce Hajek (ĐH Illinois tại Urbana-Champain), TS John E.Hopcroft (ĐH Conerll), TS G.Scott Rutherford (ĐH Washington), TS Jermy D.Semrau (ĐH Michigan), TS. Vernon Snoeyink (ĐH Illinois tại Urbana-Champain) và TS. Neal Van Alfen (ĐH California-Davis)

Báo cáo do Qũy Giáo dục VN công bố ngày 30/10


  • Theo Hạ Anh/Vietnamnet

Bộ trưởng Hàn góp ý cải cách cho VN

Tôi chỉ có một lời khuyên cho VN: hãy mở cửa! Tất nhiên, những nhóm hưởng lợi từ hệ thống hiện hành sẽ không bao giờ sẵn lòng mở cửa sân chơi của mình, cho nên cần đến vai trò của chính phủ – Cựu Bộ trưởng Giáo dục, Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc, GS Ju-ho Lee góp ý.

Cựu Bộ trưởng Ju-ho Lee
Cựu Bộ trưởng Ju-ho Lee

Chấp nhận từ bỏ quyền lực

Nhà báo Việt Lâm: Quay trở lại câu chuyện tự chủ đại học. Một trong những giải pháp quan trọng mà ông đã làm là để cho các trường tự tuyển chọn hiệu trưởng (president). Nói thật ban đầu khi mới nghe tôi cảm thấy khá ngạc nhiên vì rõ ràng quyền chỉ định hiệu trưởng đang nằm trong tay ông, là quyền lực, quyền uy của ông. Người ta vẫn nói rằng không ai dễ dàng và tự nguyện từ bỏ quyền lực cả. Vậy điều gì đã thúc đẩy ông làm vậy?

Gs Ju-ho Lee: Đây là một câu hỏi rất hay và đụng tới một vấn đề thực sự quan trọng. Thú thực thì chúng tôi đã từng tranh luận khá găng về điều này. Hầu hết mọi người đều đồng ý để Bộ chỉ định trực tiếp hiệu trường các trường đại học. Nhưng tôi không tin rằng đấy là một ý kiến hay nếu chúng ta muốn tuyển chọn được những nhà lãnh đạo giỏi cho các trường đại học. Để tìm được một lãnh đạo giỏi, các trường cần có một ủy ban tìm kiếm, để tìm ra người thích hợp nhất cho công việc đó. Thông qua tuyển lựa cạnh tranh, bạn có thể mời được người giỏi nhất. Và như thế cũng sẽ dễ dàng tiến hành bỏ phiếu bất tín nhiệm nếu vị hiệu trưởng đó làm việc không hiệu quả.

Tôi cũng muốn nói thêm rằng khi tôi tuyên bố xóa bỏ việc chỉ định trực tiếp hiệu trưởng các trường đại học, cũng có không ít người hoài nghi rằng liệu có khi nào Bộ ngầm giới thiệu các ứng viên mà mình ưa chuộng hơn để làm hiệu trưởng hay không. Điều mà chúng tôi đã làm là thuyết phục mọi người ở các trường đại học là chúng tôi không bao giờ can thiệp vào quá trình lựa chọn lãnh đạo đại học. Tôi là bộ trưởng vào thời kỳ đó và tôi đã không bao giờ can thiệp vào tiến trình đó, để hệ thống mới không thể bị coi là trò làm màu.

Vậy tôi có thể hiểu triết lý cải cách của ông là nhà nước can thiệp ít đi và các trường đại học tự chủ nhiều hơn đúng không?

Đúng vậy. Tự chủ đến trước nhưng sau đó trách nhiệm giải trình phải đi cùng. Như tôi đã nói, công khai thông tin là một giải pháp gây sức ép để các trường hoạt động có trách nhiệm. Nếu anh không cung cấp được giáo dục có chất lượng để sinh viên có được công việc tương xứng khi tốt nghiệp, anh sẽ bị đóng cửa.

Như thế tức là tỉ lệ sinh viên có việc làm tốt sẽ là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động của trường đại học?

Đúng vậy. Đây là tiêu chí quan trọng nhất để đóng cửa các trường đại học yếu kém. Có thể đối với các đại học nghiên cứu sẽ đánh giá theo bộ tiêu chí khác. Nhưng nếu bạn thực sự muốn loại bỏ các trường chất lượng kém, tiêu chí này sẽ gây áp lực buộc các trường phải nỗ lực cải thiện chất lượng giảng dạy để nâng cao cơ hội việc làm cho sinh viên.

Nhưng lúc nào tiến trình cải cách cũng có thể đối mặt với cản trở, chỉ trích và chống đối. Đó là những gì mà VN chúng tôi đã trải nghiệm. Theo kinh nghiệm của ông thì tiêu chí nào để đánh giá rằng cải cách đã đi đúng hướng để nghị trình cải cách không rơi vào tình cảnh đẽo cày giữa đường?

Tôi nghĩ rằng khía cạnh quan trọng của cải cách là sự cởi mở. Bởi lẽ, ở thời điểm này, cải cách có thể thành công nhưng cũng có thể bị đảo ngược vào thời điểm khác. Khi bạn mở cửa hệ thống, có thể bạn sẽ có thêm các nguồn lực từ bên ngoài để bạn luôn có áp lực thường trực phải cải cách. Có thể mở cửa một cách táo bạo chưa khả thi đối với VN. Vậy thì VN có thể chọn cách tiếp cận mở cửa dần dần để hệ thống giáo dục đại học của mình tiệm cận được với các chuẩn mực của thế giới.

Hãy để các trường tự thử nghiệm mô hình mới

Ông đã đề cập đến một bài học khá quan trọng. Cải cách là quá trình học hỏi và thích nghi, theo đó nền tảng là các giá trị văn hóa – xã hội cốt lõi của một quốc gia, nhưng đồng thời quốc gia đó cũng phải mở cửa để học hỏi những mô hình mới. Nhưng nhiều nhà quản lý ở VN có thể sẽ hỏi ông rằng: Đồng ý là có nhiều mô hình và kinh nghiệm hay nhưng làm sao chúng tôi có thể biết được giữa rất nhiều mô hình đó, cái nào sẽ phù hợp với hệ thống hiện hành của VN?

Một câu hỏi rất hay. Tôi muốn nói rằng, khi bạn lựa chọn cách tiếp cận theo kiểu áp từ trên xuống thì bạn không bao giờ có thể chắc chắn lựa chọn nào phù hợp với hệ thống giáo dục của VN. Nhưng nếu các bạn bắt đầu từ dưới lên, tức là các nhà quản lý để cho các trường đại học tự thử nghiệm theo cách riêng của họ, có thể cuối cùng các bạn mới tìm ra liệu cải cách có tương thích với hệ thống hay không.

Vậy thì từ kinh nghiệm của ông, nhân tố nào là mấu chốt đảm bảo cải cách giáo dục sẽ thành công?

Nhân tố quan trọng nhất là lãnh đạo. Nếu lãnh đạo mạnh mẽ, chúng ta có thể thúc đẩy cải cách bởi vì cải cách giáo dục thường rất khó khăn.

Vì sao cải cách giáo dục lại khó hơn cả cải cách kinh tế vậy?

Ồ, vì nó mất nhiều thời gian hơn để đánh giá được có kết quả hay không. Hai là, nó đụng chạm đến nhiều người. Ví dụ như cải cách hệ thống tài chính có thể chỉ cần phải thay đổi một vài tham số. Nhưng cải cách giáo dục thì không. Nó đòi hỏi thời gian, một nghị trình nhất quán và vai trò lãnh đạo mạnh mẽ.

Câu hỏi cuối cùng dành cho ông. VN cũng đang trong giai đoạn mà Hàn Quốc từng trải qua là bong bóng giáo dục, chất lượng giáo dục đại học không tương xứng với đầu tư. Theo ông, giải pháp nào khả thi nhất với trình độ phát triển hiện tại của VN

Người VN và Hàn Quốc đều có nhiệt huyết cháy bỏng với giáo dục và không tiếc tiền đầu tư cho con em mình học hành. Đây là lợi thế vô cùng lớn để VN có thể xây dựng một hệ thống giáo dục tốt. Tôi chỉ có một khuyến nghị cho VN: hãy mở cửa! Bởi giáo dục là một quá trình học hỏi và thích nghi cho nên bạn cần phải học từ những người khác. Tất nhiên, trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục, nhiều người không sẵn lòng mở cửa sân chơi của mình. Do đó, chính phủ phải gây sức ép buộc những người chơi chính mở cửa cho bên ngoài.

– Xin cảm ơn Giáo sư!

Theo Việt Lâm/ Vietnamnet
Bài gốc có thể xem tại đây

“Loại trăm thủ khoa xuất sắc, chọn SV tốt nghiệp trung bình”

Gần 4 năm về Việt Nam làm việc ở mảng nhân sự, Nguyễn Chí Hiếu (tiến sĩ Đại học Stanford, Mỹ) chia sẻ: “Từng loại gần trăm bạn thủ khoa xuất sắc đầu vào -đầu ra nhưng sẵn sàng nhận một SV tốt nghiệp trung bình…”

Tối 30/10, Nguyễn Chí Hiếu (Tiến sĩ Đại học Stanford, Mỹ) –8X Việt từng lọt top 100 SV giỏi nhất thế giới – hiện đang làm giám đốc nhân sự cho một công ty Việt Nam đã có buổi nói chuyện với SV Trường ĐH Kinh tế Quốc dân về những kiến thức và kỹ năng thiết yếu trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Câu chuyện Hiếu chia sẻ cũng chính là những trải nghiệm của bản thân từng trải qua.

Bình tĩnh đi tìm sự thật

Qua 2 năm làm việc với nhiều bạn trẻ tại Việt Nam – Hiếu nhận thấy đa phần các bạn quá nóng vội trong khi chưa bao giờ nhìn nhận vấn đề nhiều phía khác nhau.

Nguyễn Chí Hiếu (ảnh nhân vật cung cấp)

Nguyễn Chí Hiếu (ảnh nhân vật cung cấp)

Nhiều bạn SV Trường ĐH Ngoại thương với điểm TOEIC 800, 900 đến công ty của Hiếu rồi cũng ra đi. Hễ sếp rầy la một chút lại rỉ tai nhau “chắc thằng cha ghét tao, lão Hiếu xấu tính”.

Hiếu đã từng gọi đến phỏng vấn cả trăm thủ khoa, cho thử việc nhưng rồi số được nhận lại chỉ 3-4 người. Các bạn cho mình là cao rồi nên suy nghĩ phải cao, “tôi mới đúng” nhưng nhiều lúc cái mới ra trường bạn chưa biết, phải học.

Hiếu chia sẻ: đối mặt với chỉ trích như vậy thường anh đứng dậy, bước ra ngoài, tránh mọi lời ra tiếng vào để tìm đến một cốc cà phê. Trời mưa không có chỗ đôi khi chạy cả vào toilet. Tách khỏi đám đông rồi, bình tĩnh anh đến tìm gặp từng người đưa ra chỉ trích để hỏi chuyện trước khi quyết định nên làm gì.

Kinh nghiệm để tự tin…

Đem câu hỏi “ước mơ của bạn là gì?” khi đến trường Ngân hàng, Kinh tế quốc dân – Hiếu nhận được rất nhiều câu trả lời liên quan đến tài chính, ngân hàng, marketing, PR,… Nhưng khi hỏi trong hôm nay 5 công việc bạn đã làm có phục vụ gì cho ước mơ của các bạn. Câu trả lời phần lớn mà Hiếu nhận được là những cái lắc đầu không biết, chưa nghĩ tới. Chỉ khi biết bạn có đam mê, thực sự quan tâm và hiểu biết, người tuyển dụng tin bạn sẽ có thể được nhiều hơn những gì bạn biết.

Nguyễn Chí Hiếu (ảnh nhân vật cung cấp)

Từng làm việc tại Quỹ tiền tệ quốc tế, HSBC, Barclays, quản lí nhân sự, quản trị sản phẩm, giảng viên đại học – nhưng đến với các bạn sinh viên Hiếu chia sẻ về 6 công việc đầu tiên anh làm khi mới 17 tuổi. Đầu tiên là phát tờ rơi, sau rửa bát nhà hàng, bồi bàn, nướng bánh mỳ ở Donalds, đứng chào khách ở KFC, gia sư.

Anh nói đó là những công việc mình thực sự quý hơn 6 công việc hiện tại. Với từng đó công việc còn làm khi là sinh viên, nghiên cứu sinh, Hiếu tự tin khi đi xin việc dù nơi nào cũng đòi hỏi kinh nghiệm.

….Khẳng định “thương hiệu” bản thân

Phát tờ rơi dạy cho anh sự kiên nhẫn. Bị từ chối, bị chửi, bị vứt tờ rơi nhưng lần tiếp sau đèn đỏ dừng anh vẫn phải làm công việc này. Nếu không sẽ không được nhận lương.

Xem hồ sơ xin việc của nhiều bạn trẻ, Hiếu thấy choáng nhiều có bạn mới 1-2 năm đi làm nhảy việc đến cả chục nơi, nơi 2-3 tháng làm cũng liệt kê. “Nhìn hồ sơ nát như vậy tôi sẽ không nhận. Vì sao? Thứ nhất là không giỏi nên bị đuổi, thứ hai tôi không tin bạn sẽ gắn bó lâu dài với tôi nếu bạn có khả năng”.

Công việc rửa bát dạy cho anh tính cẩn thận, rửa vỡ bát chủ trừ lương không cần nói nhiều. “Còn bây giờ nhiều bạn ra trường sếp nhờ email cho đối tác báo thời gian họp thì bê nguyên chỗ Mr (của ông) cho bà (Mrs), thời gian cũng không xem cẩn thận, báo nhầm cho khách vì còn bận trả lời facebook,…”

Làm ở Mc Donald’s dạy anh cách tôn trọng thời gian, làm việc hết sức mình khi “bánh chín trong lò không đợi bạn tám chuyện, buôn facebook”.

Ở nơi Hiếu đang làm quản lí nhân sự, thay vì những thủ khoa xuất sắc, du học sinh nước ngoài về anh lại tuyển SV trong nước với chỉ bằng khá, trung bình dù cũng có người loại giỏi.

Nguyễn Chí Hiếu dành nhiều thời
  gian cho sở thích du lịch bụi. (Ảnh: NVCC)
Nguyễn Chí Hiếu dành nhiều thời gian cho sở thích du lịch bụi. (Ảnh: NVCC)

“Họ biết mình chưa tốt nên dành toàn thời gian cho công ty, nỗ lực khẳng định bản thân và mang lại giá trị cho công ty. Du học sinh hay không ít bạn thủ khoa thường cho mình đặc ân nên nghĩ, dành quá nhiều thời gian ở công ty cho công việc riêng” – Hiếu phân tích.

Bồi bàn anh chưa bao giờ khiến khách hàng phàn nàn, 3 năm làm chưa một lần sếp có ý định đuổi việc,..

Khẳng định được “thương hiệu”, cái riêng của mình và chứng minh được cho nhà tuyển dụng thấy những khả năng đó đã giúp Hiếu có những công việc tốt sau khi rời trường đại học.

Mỗi chuyến đi thêm sáng tạo

Bạn mất hộ chiếu khi chỉ còn 2 ngày nữa để trở về nước, túi bạn bị móc hết tiền, bạn bị lạc giữa biển người không dùng tiếng Anh phổ biến, còn 3 tiếng nữa bạn mới đến đỉnh núi nhưng sức lực đã gần cạn kiệt,… giữa muôn vàn rắc rối có thể xảy ra ấy bạn sẽ xoay xở như thế nào?

Khi vượt qua tất cả, trước những trở ngại ở công ty bạn sẽ học được cách đối mặt với chúng bình thản hơn.

Chưa hết, những người bạn gặp trên đường đi, suy nghĩ của họ hoàn toàn khác bạn. Bạn sẽ phải giao tiếp, trò chuyện với họ vì nhiều lí do. Đi đây đó cũng sẽ giết chết những định kiến trong đầu bấy lâu, thúc đẩy bạn sáng tạo hơn, suy nghĩ cũng thật sự mở hơn.

Nguyễn Chí Hiếu, sinh năm 1984

Sở thích: đi du lịch bụi, lang thang chụp ảnh, xem phim (đặc biệt là phim kiếm hiệp), đọc truyện tranh

Thành tích:

– Học bổng toàn phần A-level của trường Cambridge Tutors College (nước Anh) năm 2001.

– Sinh viên giỏi nhất nước Anh năm 2004.

– Học bổng toàn phần của Học viện Kinh Tế và Chính Trị London (LSE). Thủ khoa của khoa Kinh tế trong tất cả các năm học khóa 2004-2007.

– Top 100 sinh viên giỏi nhất thế giới năm 2006.

– Thủ khoa tốt nghiệp của toàn trường LSE. Sinh viên tốt nghiệp thủ khoa Kinh tế trong tất cả các trường đại học ở London năm 2007.

– Học bổng nghiên cứu sinh tiến sỹ Đại học Stanford (Mỹ). Học bổng của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) Niên khóa 2007-2012.

– Giải thưởng cho trợ giảng xuất sắc (5 lần)

Theo Văn Chung/Vietnamnet

Bài gốc có thể xem tại đây

Kỳ tích Hàn Quốc và giấc mơ người Việt

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ nói ông thường hình dung Hàn Quốc như hình ảnh của VN 40 năm tới. Còn cựu Bộ trưởng Giáo dục Hàn Quốc tin rằng giấc mơ đó không xa vời với VN nếu bắt tay vào cải cách ngay từ bây giờ, trong đó có cải cách giáo dục đại học. 

Trong một cuộc nói chuyện bên lề, trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski nói rằng ông hình dung về Hàn Quốc như là hình ảnh của VN 40 năm sau. Bởi 40 năm trước, Hàn Quốc cũng ở cùng vạch xuất phát với VN: một quốc gia nghèo đói, bị tàn phá bởi chiến tranh.

hàn quốc, kỳ tích, giáo dục

Nay Hàn Quốc đã đứng vào hàng ngũ các nước phát triển. Vị quan chức Mỹ đặt câu hỏi rằng VN cùng chia sẻ phông văn hóa Khổng giáo, tinh thần năng động và ham học hỏi, lẽ nào không thể trỗi dậy trong tương lai như Hàn Quốc đã làm được?

Băn khoăn của nhà ngoại giao Mỹ gợi nhớ đến một chia sẻ khác của Ủy viên TƯ Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Vũ Ngọc Hoàng cách đây chưa lâu, rằng ông thấy xót xa khi cách đây 40 năm, VN và Hàn Quốc có trình độ phát triển tương đương mà nay, hầu hết người Hàn Quốc tại VN làm ông chủ, còn người VN ở Hàn Quốc thì làm ô sin.

Giáo dục cải biến số phận

Sự vươn dậy ngoạn mục của Hàn Quốc đã khiến cả thế giới ngưỡng mộ. Giới phân tích chính sách tìm cách giải mã kỳ tích này với hi vọng tìm ra một công thức chung có thể áp dụng cho các nước đang loay hoay tìm đường cất cánh, trong đó có VN.

Có nhiều nhân tố phía sau quá trình cải biến kinh tế – xã hội vĩ đại của Hàn Quốc, nhưng có một yếu tố mà nhiều chuyên gia, như Giáo sư Ju-ho Lee, nguyên Bộ trưởng Giáo dục, Khoa học và Công nghệ của Hàn Quốc tin rằng VN có thể học hỏi được ngay từ bây giờ, đó là phát triển hệ thống giáo dục, đặc biệt giáo dục đại học. Bởi theo GS Lee, kỳ tích của Hàn Quốc có một phần đóng góp rất quan trọng từ thành công của nước này trong việc xây dựng một hệ thống giáo dục có khả năng trang bị cho người dân những kỹ năng và kiến thức cần thiết để cạnh tranh và đổi mới.

Quan điểm này nhận được sự chia sẻ rộng rãi của nhiều nhà kinh tế nổi tiếng. Trong cuốn “Development as Freedom”, kinh tế gia đoạt giải Nobel Amartya Sen cũng chỉ ra rằng, bí kíp thành công của một số nước Đông Á, nhất là Hàn Quốc bắt nguồn từ việc Hàn Quốc đã phổ cập giáo dục căn bản trong một thời gian rất ngắn so với các nước trong khu vực, từ đó dẫn tới sự khai phóng nguồn nhân lực chất lượng đóng góp cho tiến trình phát triển kinh tế.

Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cũng giúp Nhà nước có thêm tiền đầu tư cho giáo dục, khoa học và công nghệ. Các chuyên gia gọi đó là “vòng tròn phát triển” (virtuous circle). Hệ quả là trong khi các nước đang phát triển khác bị cuốn vào vòng xoáy đói nghèo (vicious cycle) thì vòng tròn phát triển lại đưa Hàn Quốc thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và vươn lên trở thành một cường quốc công nghệ chỉ trong vòng 40 năm.

Tốc độ phát triển giáo dục ở Hàn Quốc cũng vào hàng nhanh nhất thế giới. Năm 1945, sau khi giành được độc lập, Hàn Quốc chỉ có 7.819 sinh viên. Nhưng đến năm 1998, tỉ lệ ghi danh đại học đã là 98%, cao nhất trong các nước thuộc khối OECD. Các đại học của Hàn Quốc bắt đầu có uy tín trên trường quốc tế. Đại học Quốc gia Seoul được xem là một trong những đại học hàng đầu của châu Á (đứng hạng 13) và trên thế giới (hạng 124, theo bảng xếp hạng của THES).

Phát triển đại học dẫn đến phát triển khoa học và công nghệ.  Hàn Quốc đã có bước nhảy vọt về số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế. Năm 1990, tổng số bài báo khoa học từ Hàn Quốc trên các tập san khoa học quốc tế chỉ 1.382 bài (xấp xỉ con số của VN hiện nay). Vậy mà đến năm 2008, con số này đã là 26.690 bài, tức tăng 20 lần trong vòng chưa đầy 20 năm. Viện nghiên cứu tiên tiến của Hàn Quốc (KAIST) là một trung tâm nghiên cứu tên tuổi trên thế giới.

Điều gì đã giúp Hàn Quốc tạo lập được vòng tròn phát triển đáng ngưỡng mộ như vậy?
Trước hết, đó là khát vọng cháy bỏng của người dân Hàn Quốc đối với giáo dục bậc cao.

Người Hàn Quốc tin vào triết lý: “Giáo dục thay đổi số phận” – rằng giáo dục cải biến số phận của cá nhân, của gia đình, số phận của doanh nghiệp và thay đổi vận mệnh dân tộc. Từ 1.200 năm trước, nước này đã có văn hóa trọng thị giáo dục như tuyển chọn quan lại thông qua thi tuyển cạnh tranh công khai. Nhu cầu học hành và tích lũy tri thức bị kìm hãm dưới thời đô hộ của phát xít Nhật được giải phóng và bùng nổ sau khi nước này độc lập năm 1945. Sau năm 1945, rất nhiều trường đại học được thành lập và người dân dù phải bán cả đất đai và gia súc cũng phải lo cho con em mình được đến trường.

Hàn Quốc chính là ví dụ điển hình minh chứng cho triết lý số phận thay đổi nhờ giáo dục. “Một đất nước từng nghèo hơn cả Kenya – quê hương của ông tôi, là Hàn Quốc thời nay đang gia nhập các nước phát triển. Lý do chính là nhờ nhiệt huyết giáo dục cháy bỏng của đất nước này”, Tổng thống Mỹ Barrack Obama từng bày tỏ.

Vai trò dẫn dắt của nhà nước – không ngừng cải cách

Nhưng vòng tròn phát triển giáo dục – kinh tế – giáo dục này sẽ không thể nào có được nếu thiếu vai trò lãnh đạo mạnh mẽ và tầm nhìn sáng suốt của chính phủ nước này. Bất kể là chính phủ của nhà độc tài Park Chung-hee hay chính quyền của các tổng thống dân cử sau này, giáo dục luôn được đặt lên hàng đầu như một ưu tiên chính sách.

hàn quốc, kỳ tích, giáo dục
GS Ju-ho Lee chia sẻ kinh nghiệm cải cách giáo dục đại học với các nhà hoạch định chính sách và quản lý giáo dục VN tại một hội thảo do WB tổ chức.

Khi đã công nghiệp hóa thành công, Hàn Quốc đứng trước thách thức mới: bong bong giáo dục, buộc giới lãnh đạo nước này phải tiếp tục cải cách giáo dục một lần nữa. Gs Ju-ho Lee kể ông tiếp nhận vị trí Bộ trưởng Giáo dục và Khoa học công nghệ trong bối cảnh các nguồn lực đầu tư cho giáo dục liên tục tăng nhanh nhưng nước này vẫn mờ nhạt trên bản đồ giáo dục quốc tế, số lượng sinh viên ở các trường chất lượng thấp tăng vọt. Sinh viên ra trường lương thấp hoặc khó kiếm việc làm, nhưng tâm lý sính bằng cấp vẫn khiến người dân đổ xô đi học đại học.

“Thiếu vắng những cải cách căn bản để thích ứng với nhu cầu thời đại, hệ thống giáo dục tiếp tục duy trì mô hình cũ và trên thực tế, chất lượng giáo dục không thể được cải thiện chỉ bằng chính sách mở rộng đầu tư cho giáo dục của nhà nước. Đã đến lúc phải tái cấu trúc các trường đại học để khai phóng sự sáng tạo và đổi mới của chính họ”, GS Lee nhấn mạnh định hướng cải cách của mình.

Hai đột phá khẩu mà vị Bộ trưởng trẻ có bằng TS kinh tế từ Đại học Cornell (Mỹ) lựa chọn để cải cách giáo dục đại học là trao quyền tự chủ cho các trường và tăng trách nhiệm giải trình. Bộ Giáo dục từ bỏ quyền chỉ định trực tiếp hiệu trưởng các trường, để cho các trường tự do tuyển lựa hiệu trưởng thông qua cạnh tranh thi tuyển công khai. Đồng thời, hàng năm Bộ công khai một danh sách các trường đại học chất lượng yếu kém, cắt tài trợ, thậm chí cho đóng cửa những trường không cải thiện được thứ hạng hoặc chất lượng quá thấp. “Bàn tay sắt” này đã tạo áp lực ghê gớm buộc các trường phải tìm cách đổi mới và cải thiện chất lượng đào tạo.

Giấc mơ Hàn Quốc của người Việt

Không ít người Việt cho rằng giấc mơ Hàn Quốc có lẽ quá xa vời đối với VN. Nhưng Gs Lee và vị quan chức Mỹ kia không nghĩ vậy. Họ tin rằng, tiềm năng của người Việt nếu được khai mở sẽ tạo ra kỳ tích.

“VN và Hàn Quốc cùng chia sẻ rất nhiều điểm chung, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục. Cả người Hàn Quốc và VN đều rất coi trọng giáo dục, không tiếc tiền để con em mình được tiếp cận với giáo dục bậc cao. Đấy chính là xuất phát điểm vững chắc để VN xây dựng được một hệ thống giáo dục đại học chất lượng”, Gs Lee nhận xét sau khi trò chuyện với các nhà làm chính sách và quản lí giáo dục của VN.

Nhưng ông cũng thừa nhận, để chuyển nguồn năng lượng cảm xúc khổng lồ từ khát vọng giáo dục của người dân thành một hệ thống giáo dục tiên tiến là thách thức rất lớn đối với chính phủ. Theo Gs Lee, bài học quan trọng nhất có lẽ là vai trò lãnh đạo. Sự kiên định về mục tiêu, cùng với sự linh hoạt trong thực tiễn triển khai, đặc biệt là tính cởi mở, sẵn sàng học hỏi những kinh nghiệm hay sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách cải cách thành công.

Trong bối cảnh VN đang thiếu rất nhiều nguồn lực, ông Lee gợi ý VN có thể học tập mô hình hỗn hợp công tư của Hàn Quốc, theo đó chính phủ tập trung đầu tư vào giáo dục cơ sở và dạy nghề rồi mở rộng sang nghiên cứu và phát triển. Trong khi đó, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân đầu tư vào những lĩnh vực mà nhà nước không có điều kiện. Các đại học tư ở Hàn Quốc đã tăng chóng mặt từ 66% năm 1970 lên tới 85% năm 2012 tính theo số lượng sinh viên. Tuy nhiên, quá trình mở rộng đại học tư này phải đi kèm với sự kiểm soát ngặt nghèo về chất lượng.

“Cải cách là một quá trình lâu dài và không ngừng nghỉ. Cho đến nay, cải cách giáo dục ở Hàn Quốc vẫn đang tiếp diễn. VN có thể thành công nếu có một chương trình cải cách có hệ thống, dựa trên những nghiên cứu kĩ lưỡng và tiêu chí đánh giá định lượng, công khai”, cựu Bộ trưởng Giáo dục Hàn Quốc kết luận.

Theo Việt Lâm/Vietnamnet.vn

Bài gốc xem tại đây

Mời đón xem bàn tròn với GS Ju-ho Lee, cựu Bộ trưởng Giáo dục, Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc vào ngày mai: Hàn Quốc và bài học cải cách cho VN.

Vì sao cầu thủ Học viện HAGL JMG đã lùn lại còn yếu?

 Sau trận thắng U.21 Malaysia, HLV Guillaume Greachen thừa nhận thể lực đang là tồn tại lớn nhất của tuyển U.19 HAGL và hạn chế này đã khiến các học trò của ông không phát huy điểm  mạnh nhất  về kỹ thuật. Thầy “Giôm” hứa sẽ khắc phục “trong thời gian sớm nhất” vì sắp tới cầu thủ Học viện HAGL JMG sẽ lên đá V.League  2015.

Gặp đối thủ nào cũng bị hụt hơi

Chuyện thể lực của tuyển U.19 Việt Nam với nòng cốt là dàn cầu thủ Học viện HAGL JMG đã được phơi bày qua một loạt giải đấu từ đầu năm 2014 đến nay, bắt đầu ở giải Tứ Hùng U.19 TPHCM, giải Hassanal Bolkiah Trophy, giải U.19 ĐNÁ mở rộng, VCK U.19 châu Á và mới nhất là trận đấu  với  U.21 Malaysia ở giải U.21 quốc tế Báo Thanh Niên 2014 hôm qua.

Thể lực của cầu thủ Học viện  HAGL JMG  cũng "nổi bật" như kỹ thuật,  kỹ  năng  kiểm soát quả bóng của họ (ảnh: Ngọc Quỳnh)

Tính ra các cầu thủ Học viện HAGL JMG như Công Phượng, Tuấn Anh, Xuân Trường, Hồng Duy, Văn Sơn… đã trải qua gần 40 trận đấu giao hữu đến chính thức nhằm tích lũy thể lực tuy nhiên gần như trước mọi đối thủ cùng trang lứa, các cầu thủ Học viện HAGL JMG đều kém hơn đối thủ về thể hình, sức mạnh lẫn sức bền.

HLV Guillaume Greachen lúc nào cũng bị báo chí “quay như chong chóng” về các câu hỏi liên quan đến thể lực của cầu thủ Học viện HAGL JMG (ảnh Ngọc Quỳnh)

Tuyển U.21 Malaysia dự giải U.21 quốc tế thực chất chỉ là U.19 tăng cường vì trong đội hình 20 người có đến 13 cầu thủ mới 18 tuổi (sinh năm 1996), 3 cầu thủ sinh 19 tuổi (sinh năm 1995) và chỉ có 4 cầu thủ là 20 tuổi. Như vậy so về tuổi, đa số cầu thủ U.21 Malaysia nhỏ tuổi hơn U.19 HAGL JMG  (hầu hết sinh năm 1995).

Một yếu tố cho thấy sự thua sút hẳn về thể lực của U.19 HAGL JMG ở chỗ họ là đội chủ động về lối chơi, bắt U.21 Malaysia phải đuổi theo quả bóng nhưng đến khoảng 15 phút cuối trận trong khi U.21 Malaysia vẫn duy trì được sức bền tốt, U.19 HAGL JMG lại  “xịt hơi”. U.21 Malaysia trước đó 2 ngày đã “cày” với U.21 Sydney FC trong khi U.19 HAGL JMG chỉ mới đá trận đầu tiên ở giải.

U.19 HAGL JMG thường được biện giải rằng các cầu thủ đang hoàn thiện về kỹ thuật nên chưa chú trọng đến vấn đề thể lực.

Tất nhiên, mỗi phương pháp huấn luyện đều có cách riêng nhưng khó hiểu khi U.19 HAGL JMG đá với các đội cùng trang lứa, họ đều yếu hơn. Nhật, Hàn, Trung Quốc thua đã đành, kém cả Malaysia, Myanmar, Thái Lan, Indonesia thì không rõ cầu thủ Học viện HAGL JMG sẽ khỏe hơn ai?

Cầu  thủ chuẩn bị bước vào tuổi 20, độ tuổi bắt đầu đạt đến độ sung mãn thể chất mà ngày này qua tháng khác vẫn bị kêu ca về thể lực thì không biết nên hiểu như thế nào  đây mới “phải lẽ”. Chỉ trong 3 tháng nữa, cầu thủ U.19 HAGL JMG sẽ khắc phục “thần tốc” ra sao để đá ở V.League trước các cầu thủ đàn anh và cả ngoại binh to khỏe hơn mình rất nhiều?

Ăn kiểu gì để thấp đẹt như Học viện HAGL JMG?

Khi lập nên Học viện HAGL JMG vào năm 2007, bầu Đức đã ý thức chuyện hạn chế thể hình, thể lực khiến cầu thủ Việt Nam khó tiến xa nên ông đã không tiếc tiền chăm lo dinh dưỡng cho các cầu thủ nhí.

Ngay từ khi bước vào Học viện HAGL JMG ở tuổi 13, các cầu thủ nhí đã được chăm sóc dinh dưỡng cực tốt, ăn ngày 4 bữa và được cung cấp đủ sữa, yaourt trong cả ngày. So với các lò đào tạo trẻ khác như SLNA, Đồng Tháp, Nam Định, Thanh Hóa… dinh dưỡng của cầu thủ HAGL JMG nhận được là “một trời một vực”. Nhiều lò đào tạo khác chỉ mong cơm ăn đủ no chứ lấy tiền đâu mà cho cầu thủ uống cả lít sữa, 3-4 hũ yourt/ngày.

Chăm lo về dinh dưỡng, y tế, sức khỏe quá tốt. Giáo án huấn luyện đến từ Arsenal JMG nhưng điều lạ lùng là cầu thủ Học viện HAGL JMG luôn thấp bé hơn cầu thủ trẻ địa phương khác.

Thực đơn một ngày của cầu thủ Học viện HAGL JMG. Cứ mỗi ngày thực đơn lại thay đổi để giúp các cầu thủ ăn ngon miệng

Ở Học viện HAGL JMG, cầu thủ cao nhất là Lương Xuân Trường (1,76m) trong khi các cầu thủ còn lại không người nào cao hơn 1,73m. Tiền đạo Nguyễn Văn Toàn chỉ cao 1,68m và nặng 58kg. Tiền vệ Phan Thanh Hậu cao 1,70m và nặng 54kg nên người “mỏng lét”.

Công Phượng chỉ cao 1,68m dù bố Công Phượng cao 1,71m và ba anh trai của Công Phượng ở Nghệ An cao đến 1,78m. Chính bố Công Phượng kể rằng ngày trước khi Công Phượng lên Pleiku thi tuyển vào Học viện HAGL JMG đã thể hiện năng khiếu tuyệt vời song thể trạng thấp bé nên HLV Guillaume Greachen có phần e ngại. Tuy nhiên sau khi gặp mặt bố Công Phượng thì HLV Greachen đồng ý nhận Công Phượng vì thấy “gien tốt”.

Trong cuộc khảo sát dinh dưỡng và sức khỏe hồi tháng Hai của Trung tâm dinh dưỡng TPHCM tại Học viện HAGL JMG ở Hàm Rồng với toàn bộ 78 cầu thủ thì 100% cầu thủ có chiều cao dưới chuẩn trung bình của WHO, có đến 3 cầu thủ bị suy dinh dưỡng, còi đẹt.

Sự phát triển về thể chất của cầu thủ Học viện HAGL JMG có điều gì đó “rất không bình thường”. Hàng thủ của tuyển U.19 HAGL JMG các hậu vệ không có người nào cao được 1,75m, chẳng hạn trung vệ Đông Triều chỉ cao 1,72m. Trong khi đó các trung vệ Lục Xuân Hưng (Thanh Hóa), Bùi Tiến Dũng (Viettel), Hoàng Văn Khánh (SLNA)… là những cầu thủ lên tuyển U.19 VN đều cao 1,80m.

Thể hình thấp nhỏ được thấy rõ ở cầu thủ Học viện HAGL JMG và hạn chế về sức bền, sức mạnh cũng lần lượt phơi lộ qua thời gian đã để lại nhiều quan ngại về thể lực dàn “gà nòi” của bầu Đức

Lẽ nào do cây cao su?

Trung tâm Hàm Rồng được xây từ giữa rừng cao su và giờ vẫn trồng cây cao su làm bóng mát

Trung tâm thể thao Hàm Rồng vốn nằm giữa rừng cao su bạt ngàn của bầu Đức đang được cho là tác nhân ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể trạng, thể lực của cầu thủ Học viện HAGL JMG.

Cây cao su là loại thực vật được chứng minh có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con người. Theo Wikipedia: “Cao su là một loại cây độc, mủ của cây là một loại chất độc có thể gây ô nhiễm nguồn nước khu vực rừng đang khai thác, nó còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe người khai thác nó. Tuổi thọ của người khai thác mủ cao su thường giảm từ 3-5 năm nếu làm việc trong khoảng thời gian dài”.

Đối với việc sinh sống giữa rừng cao su Wikipedia khuyến cáo: “Cây cao su còn độc ngay cả trong việc trao đổi khí ngay cả ban ngày và ban đêm. Không bao giờ xây dựng nhà để ở gần rừng cao su, khả năng hiếm khí xảy rất cao”.

Đó chỉ mới là giả thiết được đặt ra nhưng cây cao su có tác động tiêu cực đến sức khỏe con người và động vật là thực tế khó chối cãi. Thể lực sút kém của cầu thủ Học viện HAGL JMG hẳn không phải là yếu tố mang tính ngẫu nhiên.

(Theo Một Thế Giới)

Chuyện xoài xanh muối ớt ở Hồng Công

(Tony Buổi sáng) Thập niên 60, trừ Nhật, tất cả các nước châu Á đều nghèo. Vô trang web của ngân hàng thế giới sẽ thấy GDP của các nước châu Á trong thập niên này đều tiệm cận mức 0, tức chẳng có gì.


Chương trình giáo dục các nước châu Á bắt nguồn từ các nước châu Âu, như ở Hồng Công, Singapore, Miến Điện, Thái Lan…là giáo dục hệ Anh quốc, các nước khác là giáo dục hệ Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan..tùy theo từng là thuộc địa của nước nào. Tuy nhiên, giáo dục “Tây” áp dụng cho “Ta” trong thời điểm này hoàn toàn không thích hợp, vì cách tư duy của người phương Đông khác phương Tây. Duy chỉ có Nhật bản, với tư tưởng “Thoát Á Luận” của Fukuzawa (thoát ra sự ràng buộc chằng chịt của tư duy người châu Á) có từ thời Minh Trị Thiên Hoàng, họ lấy toàn bộ sách vở từ châu Âu, chủ yếu là từ Đức, về biên soạn lại. Và hiệu quả bất ngờ, chỉ sau 2 thế hệ học sinh, Nhật trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới sau Mỹ, và là quốc gia da vàng mũi tẹt duy nhất trong hàng ngũ G7 đến tận bây giờ. Người Nhật giàu có cả trăm năm, nên cốt cách nó khác với các anh nhà giàu mới nổi sau này.

Thấy giáo dục Nhật quá hay, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Công gần như bê nguyên chương trình giáo dục của Nhật áp dụng. Và chỉ đúng 1 thế hệ học sinh ra trường, bốn quốc gia trên trở thành 4 con rồng châu Á. Giáo dục Nhật tập trung vào 3 yếu tố chính là TINH THẦN DÂN TỘC, TÍNH KỶ LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC, trong đó chủ yếu là thoát được tư tưởng tiểu nông ích kỷ cá nhân nhỏ hẹp. Dân tộc nào hội đủ 3 tính cách này, dân tộc đó sẽ trở thành dân tộc đi “cho việc”, tức mang nhà máy xí nghiệp việc làm đến dân tộc khác để người ta làm cho mình. Ở bất cứ xã hội nào, một người từ làm thuê muốn trở thành ông chủ lớn, cũng phải có 3 tính cách trên, không thể khác được.

Phillipines lại chọn cách xây dựng một hệ thống giáo dục cực kỳ thực tế. Từ lớp 1, học sinh Phi được học tất cả các môn bằng tiếng Anh, theo sách giáo khoa của Mỹ và Tây Ban Nha. Mục đích của cách đào tạo của giáo dục Mỹ là “to find a job” tức là hướng đến tìm việc làm sau khi ra trường. Phần lớn sinh viên ở Phi khi hỏi “học để làm gì”, họ sẽ trả lời là “để xin việc”. Ở Phi, có khái niệm “việc làm ngon” trong khi ở Nhật Bản và 4 con rồng châu Á, người ta chỉ nói “việc làm”. Ở Phi, người ta cũng có khái niệm “a pretty academic degree” tức “bằng cấp đẹp”. Năm 2009, 8.6 triệu người Phi với đủ thứ bằng cấp trên tay, đi làm việc ở 214 quốc gia trên thế giới, chủ yếu là Arab Saudia, Malaysia, Singapore, Nhật, Canada, Hồng Công, Anh, Úc, Mỹ…mỗi năm gửi về nước 17-18 tỷ đô la Mỹ (số liệu năm 2008), hơn 10% GDP, một con số rất lớn.

Ở Phillipines, ông chủ các nhà máy phần lớn là người gốc Hoa (Phúc Kiến/Quảng), vốn chiếm khoảng ¼ dân số (đa số là người lai hoặc có tổ tiên là người Hoa, còn người gốc Hoa thuần chiếm rất ít, 1.6% dân số/2008). Người Phi gốc mang đặc trưng của cư dân Đông Nam Á, da ngăm đen, mũi to, mắt đo, tóc xoăn, ngực nở, nhìn rất đẹp. Người Phi được trời phú cho khả năng hát ca hơn người. Các viện đào tạo ca sĩ và nhạc công, vũ công trên đất Phi nhiều vô kể. Nếu bạn vô mấy khách sạn 5 sao ở các thành phố lớn khắp thế giới, sẽ thấy thường trực những ban nhạc người Phi chơi cực kỳ hay.

Tạo hóa cũng ban cho người Phi khả năng ngôn ngữ tuyệt vời, nên họ nói tiếng Anh hay hơn Singapore hay Ấn Độ nhiều, cấu tạo dây thanh quản trong cổ họng của họ giống người da trắng nhất. Người Phi tận dụng thế mạnh này và đào tạo ra giáo viên tiếng Anh xuất khẩu khắp nơi. Các trung tâm ngoại ngữ lớn ở châu Á đều có mặt các giáo viên người Phi. Ở Phi, công nghệ bằng cấp cực kỳ đa dạng. Cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ…được đào tạo với nhiều hình thức khác nhau, nên dân chúng Phi thường có bằng cấp rất tốt. Họ cũng xuất khẩu bằng cấp cho các nước thích sở hữu bằng. Một nền kinh tế “xin việc” thì thường đề cao yếu tố bằng cấp hơn các nền kinh tế “cho việc”, vì ít ai hỏi ông chủ ông tốt nghiệp trường gì, chỉ thấy làm giỏi là được.

Ở Phi, có 2 nghề họ cũng đào tạo rất kỹ là giúp việc nhà và y tá. Nếu bạn đến chữa bệnh ở Singapore, phần lớn các y tá tiêm thuốc phát thuốc đến từ quốc gia vạn đảo này. Họ dẻo dai, làm việc cực nhọc cỡ nào cũng chịu được, lại vui vẻ yêu đời. Có lần Tony đến thăm nhà 1 người bạn ở Hồng Công, thấy 1 cô giúp việc người Phi rất xinh đẹp. Cứ bị chủ mắng thì xõa tóc đứng khóc, nhưng đâu 1 tiếng đồng hồ thì hết, vui vẻ trở lại, vừa lau nhà vừa hát vang bài “my heart will go on” và mơ đến chàng Jack đẹp trai hào hóa của bộ phim Titanic. Hát đến khi ông chủ nhà bực quá, nói “Please don’t sing any more, I have a headache” thì họ cười hí hí, nói “ok sir”. Trăm cô như một.

Đàn ông Phi thì thường làm việc ở các nhà máy hay nông trại do các ông chủ từ các quốc gia “cho việc” như Nhật, 4 con rồng châu Á sang đầu tư. Vì về mặt địa lý, Phi gần như trung tâm. Từ Seoul, từ Tokyo hay Đài Bắc cũng chỉ 2-3 tiếng bay là tới. Các công ty đa quốc gia cũng đặt nhà máy tại đây, vì giá lao động rẻ và tiếng Anh giỏi. Đàn ông Phi còn được xuất khẩu lao động sang Singapore, Trung Đông để làm các công việc nặng nhọc như xây dựng, trèo tường lau cao ốc, chặt cây xanh, thông cống đường sá, cho sư tử ăn trong sở thú…,những nghề nguy hiểm mà người bản xứ sợ chết hẻm chịu làm.

Còn nhớ lần đến Hồng Công, buổi tối, Tony đi bộ ra khu vực gần IFC chơi (IFC là trung tâm tài chính, int’l financial center), thấy cảnh sát giăng dây, các con phố tấp nập xe cộ hàng ngày trở thành phố đi bộ hết trơn. Tony chen lấn vô coi, thấy hàng ngàn các cô giúp việc người Phi được các ông chủ cho tài xế chở đến, thả xuống, cho tự do chơi tới khuya thì đi tàu điện ngầm về nhà. Đây là buổi họp chợ 1 tuần 1 lần của cộng đồng người Phi, tối thứ 7 nào cũng vậy. Tony thấy các cô trải bạt ra ngồi, rồi gọt xoài xanh, cóc, ổi chấm muối ớt, vừa ăn vừa kể chuyện chủ nhà tao thế này, con gái con trai bà chủ nhà tao thế kia… Thấy toàn món chua, nước bọt tuôn trào ào ạt, Tony sà xuống xin mấy cổ, nói thèm quá thèm quá. Mấy cổ hỏi ủa mày là người Hồng Công sao lại thèm xoài xanh muối ớt? Mà sao mày nói tiếng Anh giỏi và đẹp trai thanh tú quá vậy. Tony nói hẻm có, tao người Việt Nam. Ở Việt Nam ai cũng nói tiếng Anh như gió và đẹp đẽ thanh tú hết cả. Họ cười tít mắt, nói vậy hả, bữa nào để dành tiền qua Việt Nam chơi, đặng kiếm chồng. Cô nào cũng vừa nhai xoài, vừa mơ về những chàng Jack “made in Vietnam” hào hoa phong nhã như Tony vậy. Đong đưa qua lại một hồi, Tony thấy mấy cổ phủi đít đứng lên, nói tụi em giờ phải về chứ khuya quá sợ ông chủ mắng…

10606292_865739693478891_4502588086528093325_n

Bài trên Facebook tác giả, bạn đọc có thể xem bản gốc tại đây

Nghĩ nhân ngày Chủ nhật

(Trọng Hiền) Mình rất ủng hộ và mong có thêm nhiều bạn bè mình, hay nhiều người Việt đi thật xa, làm khác, và suy nghĩ độc lập hơn so với bây giờ. Buồn khi nhận thấy là người Việt nói chung còn quá rụt rè, suy nghĩ theo quán tính số đông và chậm tiến so với bạn bè thế giới quá.

Hôm nay mình được cô bạn trẻ chung nhà người Nhật giới thiệu và mời tới xem cô hát ở một nhà hàng. Cô là ca sĩ, ở chung nhà nhưng hôm nay lần đầu tiên mình nghe cô ta hát. Thật bất ngờ, dân chuyên nghiệp bài bản có khác. Cô ấy hát jazz, phiêu linh đầy cá tính trong một band có 4 người, một người chơi bass, một chơi guitar và một chơi trống tay. Cô bạn này đã qua Úc được 2.5 năm, đi vài nơi ở Úc, hiện đang học một trường nhạc ở Melbourne.

Ngồi cạnh mình, bắt chuyện là môt cô người Nhật khác (cô B). Cô B này đã qua Melbourne được 4 tháng để nghỉ ngơi, kiếm việc và học anh văn. Nhà cô ta ở nơi bị ảnh hưởng của vụ rò ri phóng xạ do sóng thần cách đây hai năm ở Nhật và ba cô cũng qua đời trong thiên tai đó. Cô B trông rất cá tính, tóc húi cua hai bên nhưng nói chuyện rất lịch sự và thân thiện. Cô ta nói đang tìm công việc cleaning (dọn vệ sinh) ở đây.

Quán mình tới té ra là một dạng nhà hàng rất đặc biệt ở Úc mà lần đầu tiên mình biết tới, có tên là Lentil As Anything (http://lentilasanything.com/), một hình thức kinh doanh phi lợi nhuận. Vào đây mọi người được thưởng thức món ăn và âm nhạc một cách thoải mái và chất lượng. Đặc biệt là ai muốn ăn cái gì cũng được và, trả bao nhiêu cũng được, không trả cũng được, và trả sau (qua trang web cũng được), tất cả đều là tự nguyện. Nhiều nhóm nhạc tới diễn (ví dụ ban nhạc cô bạn mình), ai muốn ủng hộ ban nhạc thì ủng hộ, không thì cũng không sao. Cô B ăn uống xong, cũng liền tham gia làm tình nguyện viên phục vụ khách hàng. Mình thấy một họa sĩ tới nhờ người khác làm mẫu cho ông ta vẽ tranh chân dung. Hay một hai cô gái xăm mình rất cá tính, đẹp vào đây làm phục vụ. Một anh chàng đeo cái bảng ghi hai chữ “Free hugs” (ôm miễn phí) và đi khắp nơi ghi lại món ăn mà khách hàng yêu cầu. Nhiều người đem cả gia đình vào đây ăn uống cả ngày. Người tới ăn có đầy đủ màu da, giọng nói. Ai cũng tôn trọng người khác, hòa nhã, thân ái dù cho bạn là ai, làm gì, ăn mặc thế nào. Đây thực sự là một bầu không khí văn minh và nhân văn nhất mà mình từng chứng kiến từ trước đến này.

Sự mạnh dạn, tự tin và năng động của hai cô gái và sự văn minh đầy tình người của quán ăn làm mình suy nghĩ rất nhiều điều. Nhìn lại, cái nếp nghĩ của nhiều người Việt mình không được như vậy. Bạn bè mình khi mới ra trường tốt nghiệp ĐH chỉ lo tìm việc, kiếm tiền rồi lập gia đình, mua nhà và sinh con đẻ cái. Cái trưởng thành theo nếp nghĩ người Việt là như vậy. Các bậc cha mẹ chỉ mong con cái lập gia đình là đã hoàn thành trách nhiệm lớn, an tâm xui tay. Bạn bè gặp nhau thì hỏi mày kết hôn chưa, có mấy con rồi, hay (thầm) so sánh nhau nhà cửa, xe sang (một thói quen mà mình nghĩ rất xấu). Tất cả đều theo một kịch bản, một khuôn mẫu một cách suy nghĩ chung chung. Hầu như không mấy ai có suy nghĩ bước ra thế giới khác, tìm tòi về nó, tự phát triển bản thân, ở một góc nhìn khác, như cái cách mà hai cô gái Nhật đang làm. Hệ quả là những suy nghĩ, kiến thức của các bạn trẻ Việt Nam mặt bằng chung thua xa bạn bè thế giới cùng trang lứa.

Ở VN hầu như không thể có một quán ăn văn minh như mình gặp, vì tính tự giác, tự nguyện của người Việt còn quá kém. Gần đây có những quán ăn VN có tính chất gần gần giống, như các quán cơm 2000Đ cho người nghèo. Chỉ tiếc nó mang tính từ thiện, phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ của các mạnh thường quân, thu không bù vào chi nên thường không vững bền. Nói gì thì nói, các quán ăn 2000Đ trên là một trong những bước đi đầu tiên hướng đến sự chia sẻ và văn minh của cộng đồng và hy vọng chúng sẽ phát triển hơn nữa thời gian tới.

Cho nên mình rất ủng hộ và mong có thêm nhiều bạn bè mình, hay nhiều người Việt đi thật xa, làm khác, và suy nghĩ độc lập hơn so với bây giờ. Buồn khi nhận thấy là người Việt nói chung còn quá rụt rè, suy nghĩ theo quán tính số đông và chậm tiến so với bạn bè thế giới quá /.

*Bài đăng trên Facebook của tác giả, tựa bài do Ban biên tập đặt lại, bạn đọc có thể xem bài gốc tại đây

 

Mỹ họ làm thế này, còn Việt Nam thì…

(Rio Lâm) Mình là cái đứa tỉ lần sính Mỹ và hay có thói chê bai Việt Nam. Nhưng mình nói thật nhé: mỗi lần thấy ai nói câu, “Ở nước ngoài người ta (làm tốt thế này), chứ không (làm tệ thế kia) như ở Việt Nam,” là mình lại mắc cười.

Nói cho vuông thế này: Việt Nam mình bình thường lắm, bình thường đến mức đừng bao giờ mơ làm đứa ác nhất hội. Muốn ác, muốn độc quyền việc xấu đòi hỏi trình độ cao lắm, không phải dễ mà tạo được bản sắc thương hiệu đâu.

Nói chung chê gì thì chê, nhưng mà chê đúng mức thôi. Nó đâu phải thủ lĩnh băng đảng hay giáo chủ ma giáo đâu mà suốt ngày cứ “Chỉ có nước mình mới (xấu) thế…”

Cái vụ Kenny Sang chớ đâu, thấy mấy bạn “trí thức thị dân” phê bình là không nơi đâu nền báo chí lại đâm đầu vào gia thế một bạn hotboy. Mô Phật, mấy bạn quăng DailyMail, Mirror (UK), People, Cosmopolitan (US) đi phương nào rồi??? Ngay cả cái tờ TIME lâu lâu cũng đăng bài lá cải thấy sợ luôn. Ảnh siêu âm ngôi sao có bầu, ai qua đêm ở nhà ai, ai tán ai sau lưng ai,… hổng thiếu thứ gì hết luôn á. Chắc chỉ thiếu mấy người ngồi tự tin là riêng nước họ có những tờ báo như thế.

*Bài viết trên Facebook của Rio Lâm, một cây viết xuất sắc tại Texas, Mỹ.
Bạn là đồng tác giả của cuốn sách Get Lost. Be Found kể về hành trình lái xe xuyên Mỹ của 3 cô gái Việt.

Tựa đề do Sinhvienusa.org đặt

 

ROADMAP về các vấn đề Biển Đông

(Bài viết của Luật sư Trần Đình Hoành trên trang UNCLOS Forum) “Mình viết roadmap này cho các bạn chưa nắm vững các vấn đề tổng quát về Biển Đông có một khái niệm cơ bản những tranh chấp chúng ta đang đối diện và những vấn đề pháp lý và chính trị liên hệ.  Các bạn  nào có điều gì chưa hiểu, xin cứ hỏi để mình  hoàn thiện roadmap. Roadmap này sẽ nói về Việt Nam, TQ, mà không nói nhiều đến Philippines, Malaysia, và Brunei để giản dị hóa vấn đề”.

ROADMAP về các vấn đề Biển Đông

I.       Các tranh chấp

  1. Hoàng Sa

Tranh chấp giữa VN và TQ và Đài Loan.  Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam Việt Nam) giữ một nửa, TQ giữ một nửa cho đến khi TQ dùng vũ lực xâm chiếm phần VNCH đang giữ trong trận Hải Chiến Hoàng Sa 1974 mà VNCH mất 74 chiến sĩ.

  1. Trường Sa

Tranh chấp giữa VN, TQ, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei (dù Brunei không nắm đảo nào).

Hiện nay mỗi nước giữ một số đảo, Brunei không có đảo nào nhưng đòi hỏi một phần phía nam của Trường Sa như là exclusive economic zone.

Phillipines nắm khoảng 53 đảo nhỏ và chỉ đòi chủ quyền trên các đảo này.

Malaysia nắm 3 đảo và chỉ đòi chủ quyền trên các đảo này.

Đài Loan nắm một đảo, Trung quốc nắm một số đảo, và cả 2 đòi chủ quyền trên toàn Trường Sa.  (Tuy nhiên hiện nay vai trò hung dữ chính là TQ.  Đài Loan chẳng làm gì cả).

Việt Nam nắm một số đảo và đòi chủ quyền trên toàn Trường sa.

  1. Công pháp quốc tế truyền thống (customary international law)Chủ quyền của các đảo (đất) phải được giải quyết bằng công pháp quốc tế truyền thống, không dùng luật biển (như UNCLOS) được.Công pháp quốc tế tối thiểu là đòi hỏi quốc gia tuyên bố chủ quyền trên một vùng có:

–          dân chúng của quốc gia đó sống ở vùng đó thường xuyên và lâu đời,

–          có hệ thống hành chánh công quyền và luật lệ

–          hành xử luật lệ công quyền với dân của mình và dân nước ngoài đi vào lãnh thổ của mình.

–          sự hành xử luật lệ công quyền đó phải có hiệu lực (tức là không chỉ trên giấy tờ), công khai, liên tục, kéo dài nhiều năm

–          được các nước khác công nhận, hay ít ra là chịu đựng và không phản đối.

Nói chung các yếu tố đòi hỏi là vậy.  Nhưng ở Hoàng Sa và Trường Sa thì dân không sống được, nên việc có hệ thống hành chánh công quyền để quản lý các vùng này là loại bằng chứng chính.

Việc một quốc gia khám phá ra các quần đảo này đầu tiên, và cắm cờ hay lập bia đá trên đó, không có tính cách quyết định.  Yếu tố chính là một hệ thống hành chánh công quyền, có hiệu quả, công khai, liên tục, lâu đời, và được các nước láng giềng công nhận. Đây sẽ là yếu tố chính trong việc xác định chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa.

Các bằng chứng lịch sử để chứng minh chủ quyền qua nhiều trăm năm rất quan trọng trong việc chứng minh chủ quyền lãnh thổ ở Hoàng Sa và Trường Sa.

III. International Court of Justice

International Court of Justice (cũng như các tòa trọng tài thuộc hệ thống Permanent Court of Arbitration của LHQ) có thể xử lý những tranh chấp này, nhưng các bên tranh chấp phải đồng ý tình nguyện vào tòa.  Trung quốc không muốn ra tòa nào cả.  Cho nên phương án dùng tòa ICJ không khả thi.

Tuy vậy, những bằng chứng rõ ràng mà ta có thể dùng để ra tòa, có thể dùng một cách khôn ngoan để thuyết phục công luận quốc tế, cũng như trong các điều đình với TQ.  Bằng chứng càng mạnh thì càng dễ điều đình.

IV.    United Nations Convention of the Law of the Sea (1982)  

  1. UNCLOS là luật biển, không thể dùng để xác định chủ quyền lãnh thổ (tức là chủ quyền đất) được, nhưng có thể dùng để xác định chủ quyền biển.

Mỗi quốc gia có quyền có, tính từ đường cơ sở ở bờ biển tính ra: 12 hải lý lãnh hải, 24 hải lý vùng tiếp giáp, 200 hải lý vùng độc quyền kinh tế, và tối đa 350 hải lý thềm lục địa.

Tức là ta thấy chủ quyền nước đi theo chủ quyền đất:  thẩm quyền tài phán (jurisdiction: tức là thẩm quyền trên một điều gì đó) trên mọi vùng nước đều tính từ bờ tính ra.

Nếu chưa xác định được ai làm chủ Hoàng Sa hay Trường Sa (đất) thì không thể các định ai làm chủ các vùng nước tính từ Hoàng Sa hay Trường Sa tính ra (dù các nước vẫn tuyên bố mình làm chủ các vùng nước vì mình làm chủ đất, nhưng đó chỉ là tuyên bố, có miệng thì cứ tuyên bố, chẳng chết ai).

Tức là, hiện thời không thể dùng luật biển UNCLOS để xác định thẩm quyền trên các vùng nước quanh Hoàng Sa và Trường Sa, vì chưa xác định được ai là chủ đất (mà TQ thì không muốn ra International Court of Justice để xác định ai là chủ đất).

  1. Nhưng UNCLOS có điều tốt là bắt buộc các thành viên UNCLOS phải ra tòa, một trong bốn tòa sau đây:  International Court of Justice, International Tribunal for the Law of the Sea, Arbitral Tribunal, hay một Special Arbitral Tribunal (2 arbitral tribunals này được tổ chức trong hệ thống Permanent Court of Arbitration của LHQ).  Và TQ cũng như các nước có tranh chấp với TQ ở Biển Đông, kể cả VN, đều là thành viên UNCLOS.
  2. Nhưng Điều 298 UNCLOS lại cho phép các thành viên tuyên bố không chấp nhận các các phương pháp xử lý tranh chấp bằng tòa án như UNCLOS quy định trong các tranh chấp liên hệ đến “ấn định ranh giới biển hay các tranh chấp liên hệ đến quyền sở hửu lịch sử”.  Và Trung quốc đã tuyên bố năm 2006, chấp nhận Điều 298 này.Cho nên người ta không thể đưa Trung quốc ra các tòa UNCLOS để kiện về các tranh chấp chủ quyền và ranh giới của các vùng nước—ai làm chủ vùng nước nào.
  1. Vậy muốn kiện Trung quốc trong các tòa UNCLOS, chúng ta phải kiện về các chuyện mà Điều 298 không cản.  Cho nên Philippines đã kiện TQ hai chuyện:
  2. Các đảo ở Trường Sa mà TQ nắm không phải là “đảo” (island) theo nghĩa mà UNLOS quy định, nhưng chỉ là đất chìm (submerged land), bãi nổi khi triều xuống (low-tide elevation) hay đá (rock)  theo UNCLOS.

Submerged land hay low-tide elevation thì không có gì quyền biển gì xung quanh cả.

Điều 121 nói về rock:  “Những tảng đá không thể kéo dài sự cư ngụ của con người hay đời sống kinh tế của chính chúng” thì chỉ có lãnh hải 12 hải lý mà không  có Vùng độc quyền kinh tế, hay thềm lục địa.  (Ngôn ngữ này khá mù mờ, nhưng chúng ta tạm thời không giải thích trong roadmap này).

Kiện các đảo TQ nắm (và đương nhiên là ảnh hưởng đến cả các đảo mình nắm) là rocks chứ không phải đảo, và nếu tòa đồng ý với mình thì cuộc tranh chấp thành nhỏ lại, vì bây giờ vật tranh chấp chẳng có gì, hay chỉ có một viên đá và 12 hải lý nước chung quanh, không phải là một vùng nước vĩ đại có bán kính 370 km Vùng độc quyền kinh tế.

Cách giải quyết này vẫn không xác định được chủ quyền của ai cả, nhưng nó biến cuộc tranh chấp khổng lồ thành bé xíu, dễ giải quyết hơn.

  1. Đường lưỡi bò không có căn bản pháp lý

Đây là điều đương nhiên nhất, vì không ai trên thế giới thấy căn bản pháp lý nào của đường lưỡi bò.  Nó chẳng là gì cả.

Nó không phải là các vùng nước thẩm quyền từ các đảo.

Nó cũng không phải là “vùng nước lịch sử” của TQ theo kiểu TQ nói ông cha tôi đi biển cả nghìn năm rồi (như là chẳng ai khác đi biển).

Công pháp quốc tế truyền thống có lý thuyết “historic waters”, nhưng cực kỳ giới hạn:  thường là cho các vùng nước giữa bờ biển và một dãy đảo chạy dọc theo bờ biển, hay các vịnh mà quốc gia ven biển xem như là biển của mình, cư dân mình đánh cá, mình có luật lệ cấm các nước khác vào, và mọi nước tuân thủ, đã rất liên tục và kéo dài nhiều năm (Các điều kiện cũng tương tự như điều kiện chủ quyền đất).

TQ chẳng có “vùng  nước lịch sử” ở Biển Đông  vì mấy nghìn năm nay tàu bè các nước đi lại tự do, chẳng ai kể cả TQ tuyên bố chủ quyền và cấm cản, và Biển Đông không phải là một vịnh nhỏ hay vùng nước nhỏ trong các đảo dọc bờ biển TQ.

Bên ngoài lãnh hải 12 hải lý của các nước ven biển ở Biển Đông, tàu bè và máy bay thế giới có quyền đi lại tự do, kể cả trong Vùng độc quyền kinh tế của các nước, và xưa nay vẫn đi lại như thế.

Nhưng khi kiện TQ, đương nhiên là Philippines chỉ cần nói đường lưỡi bò không có căn bản pháp lý chứ không cần bàn về historic waters, vì điều này có thể bị Điều 298 cấm kiện. Nếu TQ muốn đưa nó ra để cản vụ kiện thì TQ sẽ phải ra tòa, nhưng TQ không muốn ra tòa.

  1. GeopoliticsChúng ta nói đến luật và chúng ta cần dùng luật để nắm chính nghĩa và vận động thế giới, nhưng thực ra TQ không dùng luật, mà đang chơi địa chính trị.   Nói rõ ra là TQ đang dùng vai trò cường quốc của mình để thống lĩnh mọi quốc gia trong vùng và làm chủ Biển Đông.TQ hiện là nền kinh tế lớn số 2 thế giới, và có thể qua mặt Mỹ, trong vài năm nữa, có người nói là khoảng 2020, thành nền kinh tế số 1 của thế giới.

    Vì hệ thống Công pháp quốc tế còn rất yếu, TQ tính toán, như một cường quốc thời thế kỷ 17 chiếm  thuộc địa khắp nơi, cách chiếm lĩnh và thống trị biển, với tác phong quyền lực súng ống của thế kỷ 17, và phần lớn là lờ công pháp quốc tế, hoặc bóp méo công pháp quốc tế để tuyên truyền.

    Và TQ tự hỏi, tại sao không?  Các quốc gia Âu châu đã làm như thế với các nước yếu,  kể cả TQ, thời thuộc địa; Mỹ ngày nay cũng mang quân đi đánh khắp nơi, không cần LHQ nói gì; thế thì tại sao TQ không thể xưng hùng như một cường quốc hàng đầu ở  vùng Thái Bình Dương?

    Quốc tế công pháp vẫn còn rất lõng lẻo và có tính cách tình nguyện nhiều hơn là bắt buộc.  Hơn nữa, quốc tế công pháp hình thành từ “tập tục”.  Và TQ hiểu điều đó, nên đang làm 3 việc:

(1)   TQ từng bước lấn chiếm và xác định chủ quyền tại khắp các vùng đảo Biển  Đông: như các cuộc chiến Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988, cắt dây cáp tàu  Bình Minh, giàn khoan HD-981,  chiếm lĩnh các reefs và shoals ở Philiopines, và xây cất trên các nơi đó để biến các rocks thành islands dưới UNCLOS; làm luật cấm đánh bắt hải sản trên vùng không thực sự có thẩm quyền và bắt bớ ngư dân VN và Phillipines…

Dù có lý thuyết rõ ràng là rock hay island là tính trong tình trạng tự nhiên, các kiến trúc nhân tạo không tính, nhưng các nước chiếm “rocks” đều hy vọng là cứ xây cất trên đó thì một lúc nào đó tòa, hay ít nhất là mọi người, sẽ công nhận chúng là islands, đặc biệt là khi xây cả chợ búa, trường học, bệnh viện, nhà thờ… trên đó.

(2) TQ không dùng và không lệ thuộc luật quốc tế, tòa án, và cộng đồng quốc tế:  tránh tòa án và chỉ điều đình tay đôi với các quốc gia.  (“Chúng ta là anh em.  Anh sẽ lo cho em và để em thừa hưởng mọi sự.  Em chỉ cần đồng ý để anh làm chủ mọi sự để anh quản lý cho cả gia đình”.  Kiểu ngày xưa:  Anh phong em làm An Nam Quốc Vương, em tự do làm vua một cõi, chỉ cần mỗi năm em sang đây triều cống theo lễ nghĩa gia đình hoàng tộc của chúng ta).

(3) TQ từ từ thay đổi công pháp quốc tế bằng cách thiết lập “tập tục” mới: như là đòi hỏi các tàu thuyền nước ngoài khi “đi qua không hại” trong lãnh hải TQ phải được sự đồng ý của TQ (thay vì chỉ cần báo tin mà không cần đợi đồng ý);  ngăn cản các hoạt động tàu bè các nước trong Vùng độc quyền kinh tế (như trong các đụng chạm với Mỹ những năm gần đây) mặc dù Vùng độc quyền kinh tế là vùng tàu bè các nước có quyền tự do đi lại và hoạt động tự do (ngoại trừ các hoạt  động nghiên cứu khoa học thì phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển).

Với Đường lưỡi bò, dù rất mập mờ, nhưng TQ nói rõ với thế giới rằng TQ muốn làm chủ Biển Đông, muốn giới hạn quyền tự do hàng hải của mọi quốc gia có tàu thuyền đi qua Biển Đông, đặc biệt là tự do hàng hải của Mỹ.

Đây là chính trị quyền lực, nền kinh tế hàng đầu thế giới làm chủ Biển Đông và làm chủ các quần đảo ở Biển Đông để (1) khai thác tài nguyên, (2) lập vòng rào phòng thủ quân sự, và (3) kiểm soát mọi tàu bè đi qua Biển Đông—đường  hàng hải lớn hàng số 1 của thế giới.  Nói chung là chiến lược làm bá chủ vùng Biển Đông cách này hay cách khác.  Và làm chủ bằng dùng vũ lực lấn chiếm liên tục và trường kỳ, mỗi ngày một chút.

  1. Thế giới làm gì?  
  1. Trước hết phải hỏi VN làm gì?  Thần phục TQ như ngày xưa, gia nhập liên minh đại cường TQ cho một trật tự thế giới mới của TQ, để ta được yên thân làm vua một cõi?  Hay giữ vững bờ cõi và vị trí bình đẳng với mọi quốc gia trên chính trường quốc tế, và điều này có nghĩa là chịu đựng và chống lại sức ép của TQ trong nhiều năm nữa?

Nếu không muốn đứng vào liên minh TQ,  thì VN sẽ phải làm 3 chuyện:  (1) dùng tất cả trí tuệ và khả năng pháp lý để phòng  thủ, tạo một luồng dư luận thế giới mạnh mẽ ủng hộ mình, (2) gia tăng sức mạnh quân sự ở Biển Đông, và (3) có thể sẽ phải nghĩ đến chuyện kết hợp mới một liên minh không-TQ, như Mỹ, Nhật, Philippines, Nam Triều Tiên, Ấn Độ…

  1. Mỹ có lẽ là sẽ nhất định bảo vệ quyền tự do hàng hải của Mỹ và của thế giới ở Biển  Đông, và vị thế số 1 của Mỹ tại Châu Á Thái Bình Dương, vì Asia Pacific là một trong những vùng phát triển kinh tế nhanh nhất của thế giới ngày nay, và Mỹ và thế giới không thể mất quyền tự do hàng hải trên một đường biển lớn hàng đầu thế giới.

Hơn nữa, thái độ hùng hổ và đổi luật quốc tế của TQ ở Biển Đông làm cho nhiều quốc gia, đặc biệt là Mỹ, lo lắng đến một trật tự hòa bình của thế giới với TQ hùng hổ trong đó.

TQ hiện nay có vẻ như muốn nói chuyện chia ảnh hưởng toàn cầu với Mỹ, như là anh để tôi vùng này tôi dành cho anh các vùng khác trên thế giới.

Nếu kinh tế TQ cứ phát triển mạnh như mấy mươi năm nay, và kinh tế của Mỹ và khối Tây Âu không có bước đột phá, thì điều gì có thể xảy ra với chiến  lược bá chủ của TQ?

Việt Nam có tác động gì không trong những trận thế vĩ đại giữa TQ và Mỹ?  Hay chỉ là một con tốt  bị ném hướng này hướng kia bởi các đại cường?

Các bạn, có 2 điều chúng ta cần nắm vững về những cuộc cờ lớn này: (1) Dù là trong trận thế nào, cái đầu vẫn là vũ khí tiên quyết. Người Việt ngày nay có ở khắp thế giới, có người nắm giữ những vị trí hàng đầu tại nhiều quốc gia, có kiến thức tổng hợp rất lớn, có khả năng tạo đồng minh với mọi chính phủ trên thế giới.  (2) Nhìn vào các thế chiến đã qua, chúng ta luôn luôn thấy rốt cuộc bad guys (kẻ xấu) sẽ thua, mặc dù lúc khởi đầu họ có thể thấy rất mạnh.  Dù là ai, nước nào, cũng có xấu có tốt, nhưng tận cùng nếu phải phân loại thì chúng  ta vẫn có thể nói nước nào tốt nước nào xấu. Rốt cuộc những quốc gia trọng tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng, và sự thật sẽ thắng.

Các thông tin chi tiết về UNCLOS xin xem tại:
http://unclosforum.com/category/unclos-forum/

Giao lưu trực tuyến với Chủ tịch VietAbroader

Hơn 10 ngàn sinh viên Việt Nam đang học đại học tại Mỹ và hàng ngàn bạn khác đang háo

hức chuẩn bị lên đường tới Mỹ nhập học trong mùa Thu này. Các bạn đang băn khoăn:

Những thách thức gì đang chờ bạn? Làm thế nào để thành công tại giảng đường ĐH Mỹ?

 Để giải đáp các câu hỏi này, chương trình Nhịp cầu tri thức tháng 7 này sẽ tổ chức giao

lưu tực tuyến với Chủ tịch VietAbroader Nghiêm Hoàng Linh, chàng trai đang gây ấn tượng

với các giáo sư Mỹ với bảng điểm toàn A và thành tích hoạt động xã hội đáng nể.

Cuộc giao lưu trực tuyến diễn ra vào 10 giờ sáng thứ 7, ngày 12 tháng 7 giờ

Washington DC, tức 9 giờ tối thứ 7 ngày 12 tháng 7 giờ Hà Nội.

Người dẫn chương trình: Dương Văn Linh, chuyên gia tư vấn chiến lược tại

Ernst&Young, một chàng trai cũng gặt hái nhiều thành công sau khi học đại học

tại Mỹ.

Địa chỉ tham gia giao lưu trực tuyến:

https://connect.unl.edu/phu_vu/?launcher=false
Trang web sẽ hiện màn hình chờ từ 1 tiếng trước thời điểm diễn ra giao lưu.

Các bạn có thể đăng ký tham gia từ bây giờ tại đây.

Linh Nghiêm - Đồng chủ tịch VietAbroader. ảnh KTL
Linh Nghiêm – Đồng chủ tịch VietAbroader. ảnh KTL

Thông tin về Linh Nghiêm có tại đây 

Linh Nghiêm profile 

A Glance 

– University of Miami Scholarship

– Business Dean’s Scholar

– Student Employee of the Year 2012

– Student Advisory for Curriculum Committee (1 of 7 students selected from

Department Chairs)

– Vice Chair of Election Commission – Student Government

– Recipient of Honor Summer Research Grant (1 of 19 students selected out of

more than 100 honor applicants)

– President’s Honor Roll (only for students with 4.0 GPA)

– Student participant of various academic and research conferences, including

AMS- Florida (American Mathematical Society), SAMSI (Statistical and

Applied Mathematical Institute)

 

Giáo dục đẳng cấp thế giới

(Học thế nào) Lời người dịchSalman Khan sáng lập Học viện Khan năm 2009 với trang mạng –khanacademy.org – là một trang mạng giáo dục cung cấp các bài giảng miễn phí trên Internet với nhiều chủ đề khác nhau.

Hơn 75 triệu người đã học qua trang mạng này. Khan thảo luận về ý tưởng này trong cuốn sách của ông – “Ngôi trường chung cho toàn thế giới: Giáo dục được hình dung lại”, xuất bản năm 2012. Cuốn sách đưa ra một phương án trả lời cho câu hỏi chúng ta dạy và học như thế nào trong thời đại mới – thời đại Cách mạng Thông tin. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc chương nhập đề của cuốn sách.

khan-book

Giáo dục đẳng cấp thế giới cho bất cứ ai, tại bất cứ nơi nào, miễn phí

Salman Khan

Tên tôi là Sal Khan. Tôi là người sáng lập và là giáo viên chính của Học viện Khan, một tổ chức nghiêm chỉnh nhằm cung cấp giáo dục miễn phí cho bất cứ ai, tại bất cứ nơi nào. Tôi viết cuốn sách này vì tôi tin tưởng rằng cái cách chúng ta dạy và học đang ở vào bước ngoặt mà cả ngàn năm mới có một lần.

Mô hình lớp học truyền thống dường như không thích hợp với những nhu cầu đang thay đổi của chúng ta. Đó cơ bản là một cách học thụ động, trong khi thế giới đòi hỏi xử  lý thông tinchủ động hơn và hơn nữa. Mô hình cũ là gom người học theo lứa tuổi với một chương trình giảng dạy với một tốc độ chung cho tất cả và hy vọng người học sẽ tiếp nhận được điều gì đó trong quá trình giảng dạy. Không rõ đó có phải là mô hình tốt nhất cho một trăm năm qua không; chắc chắn hiện nay nó không tốt chút nào. Trong khi các công nghệ mới đang mang đến các hy vọng cho các phương thức dạy và học hiệu quả hơn thì cũng đồng thời làm nổi lên những nhầm lẫn, thậm chí sơ hãi; công nghệ mới thường chỉ được dùng nhiều hơn chút ít như các cửa sổ trang trí.

khan

Giữa cách dạy cũ và mới có một vết nứt trong hệ thống, và trẻ em trên toàn thế giới đang ngã xuống đó hàng ngày. Thế giới đang thay đổi với một tốc độ ngày một nhanh, một thay đổi có tính hệ thống, khi thay đổi diễn ra nó chuyển động lạnh lùng và nhiều khi sai hướng; hàng ngày – trong từng tiết học – cái khoảng cách giữa phương pháp dạy học sinh và cái chúng thật sự cần học ngày càng lớn lên.

Tất nhiên, nói về điều này thật là dễ dàng. Trong những ngày này, ca ngợi hay chê bai, ai cũng nói về giáo dục. Các nhà chính trị nhắc đến giáo dục trong mỗi bài diễn văn của họ. Cha mẹ lo lắng ồn ào về sự thua kém tương đối của con cái họ so với những tiêu chuẩn rất quyền uy, huyền bí và mập mờ hay với kẻ cạnh tranh cách đó hai hàng ghế hay nửa vòng trái đất. Giống như các tranh luận về tôn giáo, người ta thường thấy các quan điểm nóng bỏng nhưng thiếu vắng chứng cớ kiểm chứng. Liệu trẻ cần nhiều hay ít hơn các cấu trúc?  Kiểm tra thi cử quá nhiều hay quá ít? Nói về thi cử, liệu các bài kiểm tra chuẩn có đo được kết quả học tập hay chi đo được kỹ năng làm bài kiểm tra? Liệu chúng ta đang thúc đẩy sáng kiến, sự hiểu biết thấu đáo và tư duy độc đáo hay là đang tiếp tục một trò chơi trống rỗng?

Người lớn cũng lo cho chính bản thân mình. Cái gì sẽ xảy ra cho khả năng học tập của chúng ta một khi giáo dục chính thức đã kết thúc. Làm sao chúng ta có thể rèn luyện trí óc mình để nó không trở nên lười biếng và khô cứng? Liệu chúng ta còn có thể học được những cái mới? Ở đâu và thế nào?

Tất cả những thảo luận như thế này về giáo dục là lành mạnh bởi vì chúng khẳng định tầm quan trọng tuyệt đối và trung tâm của học tập trong thế giới cạnh tranh và kết nối của chúng ta. Vấn đề là thảo luận chưa biến thành sự cải thiện. Ở đâu đó hành động diễn ra thì lại thường là các chính sách của chính phủ từ trên xuống, chúng làm hại cũng như giúp đỡ. Có những nhà giáo và nhà trường phi thường đã chỉ ra rằng sự xuất sắc là có thể, nhưng thành công của họ thường rất khó áp dụng và nhân rộng. Mặc dù nhiều tâm huyết và tiền bạc đã đổ ra để giải quyết vấn đề nhưng tiến bộ là không đáng kể. Điều đó dẫn đến chủ nghĩa yếm thế sâu sắc, liệu giáo dục có thể được cải thiện một cách hệ thống ?

Nguy hại hơn, nhiều người dường như cách này hay cách khác bỏ qua những dữ liệu cơ bản  về khủng hỏang cái gì. Đó không phải là tỷ lệ tốt nghiệp hay điểm số các kỳ thi. Mà là tất cả những điều này có ý nghĩa gì đối với kết quả cuộc sống của con người. Đó là tiềm năng được hiện thực hóa hay vùi dập, là phẩm giá được nâng cao hay chối bỏ.

Điều thường được trích dẫn là học sinh trung học phổ thông ở Mỹ xếp thứ 23 trên thế giới về sự thông thạo các môn khoa học tự nhiên và  toán. Theo cách nhìn lấy Mỹ làm trung tâm thì điều này thật thất vọng; nhưng những bài kiểm tra để đưa ra đánh giá này chỉ là thước đo rất hẹp những cái đang diễn ra ở một nước. Tôi tin rằng, ít nhất trong một tương lai gần, Hoa Kỳ vẫn sẽ giữ được vị trí lãnh đạo trong khoa học và công nghệ mặc cho bất cứ sự đi xuống có thể nào trong hệ thống nhà trường của chúng ta. Đặt những lời mang tính cảnh báo sáng một bên, Hoa Kỳ không mất vị thế quan trọng của mình vì sinh viên ớ Estonia giỏi hơn sinh viên Mỹ về phân tích đa thức. Các khía cạnh khác của văn hóa Mỹ – một sự kết hợp độc đáo của tính sáng tạo, tinh thần kinh doanh, chủ nghĩa lạc quan và vốn – đã làm  Mỹ thành mảnh đất mầu mỡ nhất thế giới cho cách tân. Đó là lý do vì sao mọi trẻ em thông minh từ khắp nơi trên thế giới đều mơ ước có được thẻ xanh để đến đây làm việc. Trên cách nhìn toàn cầu và hướng về tương lai, mọi xếp hạng quốc gia ở chừng mực nào đó là không quan trọng.

Tuy nhiên, khi không chú ý đến những cảnh báo, sự tự mãn có thể dẫn thẳng đến thảm họa. Không có cái gì trong ADN Mỹ cản trở tinh thần kinh doanh và sự sáng chế, và vị thế lãnh đạo của chúng ta chỉ có thể bị suy yếu khi chúng ta thất bại giữ cho nó bật lên bằng những bộ óc tươi mới và được giáo dục tốt.

Ngay cả khi Mỹ vẫn là nguồn năng lượng cho sáng tạo thì ai được hưởng lợi từ điều đó? Liệu do chỉ có một phần nhỏ sinh viên Mỹ có thể hưởng nền giáo dục để có thể tham gia mà các công ty Mỹ cần sẽ buộc các công ty phải tiếp tục nhập khẩu tài năng để bù sự thiếu hụt. Liệu số phần trăm những người trẻ của chính nước Mỹ không có việc làm hoặc không được làm đủ thời gian có tăng lên vì họ không có các kỹ năng cần thiết?

Các câu hỏi tương tự cũng cần được hỏi nhân danh tuổi trẻ toàn thế giới. Liệu các tiềm năng của họ có bị vùi dập hay bị hướng vào các hướng nguy hiểm  chỉ vì họ không được cung cấp các công cụ và cơ hội  làm lớn lên chiếc bánh kinh tế? Liệu nền dân chủ đích thực tại thế giới đang phát triển sẽ không thể đứng vững chỉ vì các trường học tồi tệ và một hệ thống đổ vỡ và tham nhũng?

Những câu hỏi này có cả khía cạnh thực tiễn lẫn đạo đức. Niềm tin của tôi là mỗi người chúng ta có phần trong nền giáo dục cho tất cả chúng ta. Ai biết một thiên tài sẽ xuất hiện tại đâu? Rất có thể một bé gái trong một ngôi làng ở Châu Phi có tiềm nằng tìm ra thuốc chữa ung thư. Con trai một người đánh cá ở New Guinea có thể có một hiểu biết không thể ngờ tới về sức khỏe của các đại dương. Tại sao chúng ta lại để các tài năng như thế bị bỏ phí? Làm sao chúng ta có thể biện minh cho việc đã không cung cấp cho các trẻ em đó một nền giáo dục đẳng cấp thế giới khi mà công nghệ và nguồn lực để làm việc đó có – một khi chúng ta có thể liên kết tầm nhìn và quyết tâm làm cho điều đó xảy ra?

Thế nhưng thay vì hành động, mọi người luôn nói phải thay đổi từ từ. Có thể ví thiếu một trí tưởng tượng, hoăc một sự sợ hãi làm chao đảo con thuyền, mọi thảo luận dừng lại trước khi đưa ra các câu hỏi có tính nền tảng mà nền giáo dục thiểu năng đang đòi hỏi phải trả lời. Thay vào đó người ta chú ý vào một số vấn đề quen thuộc bị ám ảnh nhầm như kết quả kiểm tra và tỷ lệ tốt nghiệp. Tất cả những cái đó trên bất cứ nghĩa nào đều tầm thường. Điều thực sự quan trọng là liệu thế giới có được một nhân dân quyền năng, làm việc có kết quả, trong những thế hệ đang tới, một nhân dân có thể huy động tiềm năng của mình và thực thi trách nhiệm của mình một cách có ý nghĩa với một nền dân chủ thực sự.

Giải quyết vấn đề này, chúng ta sẽ xem lại các giả thuyết mang tính nền tảng. Mọi người thực sự học như thế nào? Mô hình lớp học chuẩn – những bài giảng ở trường và làm bài tập về nhà một mình vào buổi tối – vẫn còn có ý nghĩa trong thời đại  số hóa? Tại sao hoc sinh lại quên rất nhiều những cái được cho là họ đã “học được” ngay sau khi họ trả thi? Tại sao cảm giác về sự không liên quan giữa cái họ học trong trường và những cái họ làm ngoài đời ngày càng lớn? Đây chính là những câu hỏi cơ bản nhất chúng ta cần phải hỏi. Ngay cả như vậy, vẫn có một sự khác biệt rất lớn giữa than vãn về thực trạng của giáo dục với làm việc thực sự để thay đổi nó.

Năm 2004 – với sự tình cờ trong mức độ nào đó, mà tôi sẽ giải thích sau – tôi bắt đầu thí nghiệm một số ý tưởng và dường như chúng làm việc. Nhìn chung, đó là sự thể hiện mới của những nguyên lý đã được chứng minh từ lâu. Mặt khác, kết hợp với sự xuất hiện và  tiếp cận các công nghệ mới đã chỉ ra các khả năng để tư duy lại giáo dục như chúng ta vẫn biết.

Trong nhiều thí nghiệm khác nhau, một thí nghiệm đã có cuộc sống riêng của nó đó là việc tôi đưa lên mạng YouTube các bài học về toán. Tôi không biết làm thế nào là tốt nhất, cũng không biết liệu ý tưởng đó có làm việc không, không biết liệu có ai xem các bài học đó không. Tôi hành động theo cách thử đúng và sai (tất nhiên, sai lầm là cho phép) trong khuôn khổ hạn chế về thời gian áp đặt do đòi hỏi của công việc hàng ngày của người làm phân tích của một quĩ phòng vệ. Tuy nhiên, chỉ trong thời gian ngắn vài năm, điều rõ ràng với tôi là niềm đam mê và cái nghiệp đời tôi là trong lĩnh vực giảng dạy trong không gian ảo; năm 2009 tôi bỏ việc để tập trung toàn bộ thời gian vào công việc mà sau này sẽ có hình dáng là Học viện Khan.

Nếu cái tên có vẻ to lớn như thế, thì nguồn lực cho cái cơ sở mới này lại bé nhỏ đến nực cười. Hoc viện chỉ có một máy tính giá trị 20 đô la với màn hình và phần mềm, một bảng viết bút giá 80 đô la; đồ thị và các phương trình được vẽ nguêch ngoạc bằng một chương trình miễn phí có tên là Microsoft Paint. Ngoài  các video, tôi dùng một số phần mềm đặt câu hỏi chạy trên trang mạng do tôi làm chủ với chi phí 50 đô la một tháng. Giáo viên, đội ngũ kỹ sư, nhân viên hành chính và phục vụ tất cả đều một mình tôi đảm nhiệm. Ngân sách là khoản tiền tiết kiệm của tôi. Phần lớn thời gian hàng ngày tôi măc áo thun giá 6 đô la quần vải bông nói chuyện với máy tính và dám ước mơ lớn.

Tôi không mơ thiết lập được một trang mạng phổ biến hay là một tia chớp trong thảo luận về giáo dục. Có lẽ tôi là một người ảo tưởng, nhưng tôi đã mơ thành lập một cái gì đó dài lâu và có tính biến đổi, một tổ chức cho thế giới có thể tồn tại vài trăm năm và giúp chúng ta tư duy lại một cách căn bản việc dạy học có thể thực hiện như thế nào.

Bây giờ, tôi nghĩ, là thời điểm đúng cho một cuộc đánh giá lại cơ bản như thế. Những cơ sở giáo dục và mô hình giáo dục mới xuất hiện vào những điểm ngoặt trong lịch sử. Harvard và Yale được thành lập không lâu sau khi quá trình thuộc địa hóa hoàn thành ở Bắc Mỹ. MIT, Stanford và các hệ thống đại học bang là sản phẩm của cuộc Cách mang Công nghiệp và công cuộc mở rộng lãnh thổ Mỹ. Chúng ta hiện giờ đang ở vào giai đoạn đầu của một điểm ngoặt lịch sử mà tôi tin rằng sẽ để lại nhiều hệ quả trong lịch sử: cuộc Cách mạng Thông tin. Và trong cuộc cách mạng này, tốc độ của sự thay đổi vô cùng tức tốc làm cho tư duy phản biện và sáng tạo sâu không còn là một lựa chọn, chúng không còn là xa hoa nữa mà trở thành kỹ năng sống còn. Chúng ta cũng không còn có thể chấp nhận rằng chỉ có một bộ phận nào đó của dân số thế giới được hưởng giáo dục đầy đủ. Với tất cả những ý nghĩ đó tôi đưa ra một sứ mệnh với một tham vọng khủng khiếp nhưng – với sự trợ giúp của các công nghệ đã có nhưng lại không được tận dụng một cách phi lý – là hoàn toàn có thể đạt được: Cung cấp giáo dục đẳng cấp thế giới cho bất cứ ai, tại bất cứ nơi nào, miễn phí.

Triết lý dạy học cơ bản của tôi ngắn gọn và cá tính một cách sâu sắc. Tôi muốn dạy theo cách mà bản thân tôi muốn được dạy khi đi học. Nói vậy, tôi hy vọng truyền một niềm hạnh phúc lớn lao của việc học, sự sảng khoái khi hiểu biết vũ trụ. Tôi muốn truyền cho người học không chỉ logic mà còn là vẻ đẹp của toán học và khoa học. Hơn nữa, tôi muốn làm điều đó theo cách hữu ích cho cả trẻ em học môn học lần đầu lẫn người lớn muốn làm mới lại kiến thức của mình; cho học sinh đang phấn đấu làm bài tập cũng như cho người lớn đang hy vọng giữ cho trí tuệ mình tích cực và linh hoạt.

Cái tôi không muốn là quá trình buồn tẻ thường diễn ra trong các lớp học – học thuộc lòng và nhớ các công thức nhằm hướng đến không phải cái gì dài lâu và có ý nghĩa hơn là có điểm tốt trong kỳ thi sắp tới. Không, tôi hy vọng giúp cho người học nhìn thấy những mối liên hệ, sự tiến triển giữa bài học này và bài học tiếp theo, phát triển trực giác của họ thay vi tiếp nhận thông tin, tiếp thu từng khái niệm mỗi lần, và làm chủ mỗi môn học. Nói gọn, tôi muốn phục hồi lại niềm hứng khởi – sự chủ động tham gia trong học tập và hứng khởi tự nhiên đi kèm với nó – điều mà các chương trình bình thường dường như đã làm cùn đi.

Trong những ngày đầu tiên của cái sẽ trở thành Học viện, tôi có một học trò, Nadia. Cô ấy tình cờ là em họ tôi.

Đến giữa năm 2012, Học viện Khan đã lớn lên không chỉ còn mình tôi. Chúng tôi đã giúp đỡ về giáo dục cho hơn sáu triệu người học mỗi tháng – nhiều hơn số người đã đến học tại Harvard tính từ khi thành lập trường vào năm 1636 đến nay hơn 10 lần – và con số này tăng 400 phần trăm mỗi năm. Các video đã được hơn 140 triệu lượt người xem và người học đã làm hơn nửa tỷ bài tập thông qua các phần mềm của chúng tôi. Cá nhân tôi đã đưa lên mạng hơn ba nghìn video bài giảng – tất cả đều miễn phí không thương mại – về nhiều môn học từ số học cơ sở đến toán cao cấp, từ vật lý đến tài chính đến sinh học, từ hoa học cho tới Cách mạng Pháp. Chúng tôi cũng tích cực thuê các nhà giáo dục và các chuyên gia phần mềm hàng đầu thế giới giúp đỡ. Học viện đã trở thành một sân giáo dục được sử dụng rộng rãi nhất trên mạng được tạp chí Forbes miêu tả là “một trong những câu chuyện mà không hiểu sao không ai nghĩ đến đang trở thành một tổ chức giảng dạy có ảnh hưởng mạnh nhất hành tinh”. Bill Gates đã đưa ra sự đánh giá cao khi công khai thừa nhận ông đã dùng trang mạng của chúng tôi để giúp con ông học toán.

Cuốn sách này, một phần, là câu chuyện về sự lớn lên và được tiếp nhận nồng nhiệt đặc biệt của trang khanacademy.org – và quan trọng hơn là sự lớn lên đó nói cho chúng ta biết điều gì về thế giới mà chúng ta đang sống.

Chỉ ít năm trước, Học viện Khan mới được một nhóm nhỏ học sinh trung học cơ sở biết đến – đó là họ hàng và những người bạn của gia đình. Làm thế nào và tại sao chỉ từ một nhóm nhỏ thân hữu ban đầu danh tiếng của trang này lại lan truyền ra toàn cầu đến những người thuộc mọi lứa tuổi và hoàn cảnh kinh tế, những người khát khao học tập? Tại sao các học sinh lại nói với bạn mình về trang này và còn nói với cả giáo viên của họ nữa? Tại sao các giáo viên lại nói về nó với trưởng bộ môn của mình?  Tại sao cha mẹ không chỉ dùng trang này để giúp con em họ học tập mà còn dùng nó để làm mới trí nhớ và tạo hứng thú học tập cho chính họ?

Hỏi gọn là nhu cầu nào chưa được thỏa mãn đã được Học viện đáp ứng?

Tại sao Học viện có thể động viên và khích lệ học sinh theo cách mà các chương trình phổ biến không làm được? Về kết quả, liệu chúng tôi có thể chứng minh bằng số liệu thực rằng Học viện đã giúp đỡ được mọi người học tập?  Nó có thực sự nâng cao điểm số thi kiểm tra? Quan trong hơn, có đúng cách dạy của Học viên giúp người học giứ được sự hiểu biết thực sự lâu bền hơn? Có đúng cách dạy đó thưc sự giúp học sinh một cách nhất quán vượt ra ngoài khuôn khổ đánh giá theo thang điểm trong nhà trường? Liệu các video bài giảng và các phần mềm giao tiếp hữu ích nhất như các phương tiện bổ sung cho lớp học truyền thống hay nó đang chỉ ra một đường lối giáo dục tương lai khác về chất – trên tất cả đó là chủ động và theo tốc độ của bản thân người học?

Đối với mỗi cá nhân người học, tám hay tám mươi tuổi, mỗi video bài hoc tiếp theo luôn là một khám phá cá nhân. Mỗi nhóm vấn đề hay bài tập tiếp theo luôn tạo ra những thách thức mà mỗi cá nhân tiếp cận theo nhịp độ riêng của mình; không có bất cứ sự xấu hổ hay kì thị nào bởi vì tiến bộ chậm chạp; không có những thời điểm sợ hãi khi lớp học phải tiếp tục. Các video được lưu trữ sẽ không biến mất và học sinh có thể xem lại nhiều bao nhiêu như họ cần. Lỗi lầm được cho phép! Học sinh không phải sợ hãi vì thầy cô giáo đang thất vọng nhìn qua vai hay vì đã tỏ ra đần độn trước con mắt của các bạn cùng một lớp.

Tôi đam mê tin tưởng rằng Học viện Khan là một công cụ ít nhất cho phép một mô hình gần đúng chỉ ra giáo dục tương lai phải như thế nào – đó là sự kết hợp nghệ thuật giảng dạy với khoa học trình bày thông tin và phân tích số liệu; khoa học thực hiện các chương trình rõ ràng nhất, cho tất cả mọi đối tượng, thích đáng nhất với chi phí thấp nhất có thể. Tôi có nhiều lý do để tin như thế cả về mặt công nghệ lẫn kinh tế. Nhưng có lẽ điều thuyết phục nhất chính là các phản hồi chúng tôi nhận được từ những người học.

Trong vài năm qua chúng tôi đã nhận được hàng nghìn bức thư phản hồi điện tử từ những người học đã hưởng lợi từ Học viện. Những lời xác nhận này đến từ các thành phố của Châu Âu,  từ những khu phố ngoại ô của nước Mỹ, từ những xóm làng của Ấn Độ và từ các thị trấn ở Trung Đông nơi những cô gái nhiều khi phải bí mật nỗ lực để có được giáo dục. Một số bức thư ngắn và buồn cười; một số khác rất chi tiết và cảm động; một số tác giả các bức thư là các em nhỏ đang phải vật lộn ở trường học và có những ý nghĩ tiêu cực về bản thân; số khác là những người lớn đang lo lắng họ bị mất khả năng học tập.

Tát cả những bức thư đó làm nổi lên một số chủ đề. Rất nhiều trẻ em thông minh và ham học đang bị đối xử không tốt bởi thực tế giáo dục của các em – tại các trường giàu có và tinh hoa cũng như tại các trường nghèo. Có quá nhiều trẻ em bị tổn thương niềm tin; thậm chí nhiều học sinh được coi là “thành công” đã thừa nhận rằng các em đạt điểm tốt nhưng không học được bao nhiêu. Trẻ em cũng như người lớn thấy tính tò mò ham hiểu biết của mình bị mất đi bởi vì sự buồn chán trong lớp học hay tại nơi làm việc và bởi sự ầm ỹ liên tục không nghỉ của cái văn hóa đại chúng bãi rác.

Đối với những người này, Học viện Khan là một thiên đường một nơi để di tản, nơi mà họ có thể làm cho họ những điều mà lớp học và chỗ làm việc không làm được. Liệu xem các bài giảng qua video và sử dụng các phần mềm giao tiếp có làm cho con người ta thông minh hơn? Không. Nhưng, tôi lập luận rằng chúng giúp làm một số việc tốt hơn: tạo môi trường cho phép con người ta tự do tò mò, cho lòng ham học tự nhiên được thể hiện vì thế họ có thể hiện thực hóa cái thông minh sẵn có của họ.

Hơn tất cả, chính những lời phản hồi của người học đã thuyết phục tôi viết cuốn sách này. Tôi nghĩ về nó như một bản tuyên ngôn – trên cả hai phương diện một lời tuyên bố của cá nhân và cũng là lời kêu gọi xung trận. Giáo dục chính thống phải thay đổi. Nó phải sánh bước với thế giới như thế giới đang là; phải hài hòa với cách học tập và phát triển thực sự của con người.

Khi nào và ở đâu con người có thể tập trung tốt nhất? Câu trả lời tất nhiên là tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Có người sắc sảo nhất vào buổi sáng; có người tiếp thu tốt nhất vào lúc đêm khuya. Có người chỉ có thể tập trung trong phòng yên tĩnh, người khác chỉ có thể suy nghĩ rõ ràng trong tiếng nhạc hay trong tiệm cà phê ồn ào. Với sự đa dạng như thế, tại sao chúng ta vẫn nhất quyết rằng phần nặng nhất của dạy và học phải thực hiện trong lớp học với nhịp độ vô cảm của chuông báo giờ bắt đầu và kết thúc.

Công nghệ có sức mạnh giải phóng chúng ta khỏi những hạn chế đó, làm giáo dục trở nên chuyển động, linh hoạt và mang tính cá nhân; tăng cường sáng kiến và trách nhiệm cá nhân; phục hồi lại niềm vui thích săn tìm kho báu cho quá trình học tập. Công nghệ cũng mang lại một lợi ích tiềm năng khác đó là  Internet làm cho tiếp cận giáo dục trở nên rất, rất dễ dàng, vì thế tri thức và cơ hội được chia sẻ rộng rãi và công bằng hơn rất nhiều. Chất lượng giáo dục không còn phụ thuộc vào trường sở. Không còn những lý do kinh tế ngăn cản trẻ em ở khắp mọi nơi không được tiếp cận những bài học như bài học của con Bill Gates.

Có một câu nói từ xa xưa đời là trường học. Nếu câu nói này đúng thì điều sau đây cũng đúng, thế giới của chúng ta đang trở nên nhỏ bé hơn, mọi người trên thế giới trở nên kết nối với nhau không thể chia tách, bản thân thế giới trở thành một ngôi trường lớn bao trùm tất cả. Trong ngôi trường đó có người trẻ hơn, có người già hơn, có người gần hơn, có người xa hơn với giáo dục trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. Tại mỗi thời điểm, chúng ta vừa là học trò vừa là thầy giáo; chúng ta học bằng nghiên cứu nhưng cũng học bằng cách giúp đỡ người khác thông qua việc chia sẻ và giảng giải những điều ta biết.

Tôi thích nghĩ về Học viện Khan chính là thực tế ảo của cái ngôi trường toàn thế giới đó. Ở đó mọi người đều được chào đón, tất cả được mời dạy và học, tất cả được khuyến khích làm điều đó một cách tôt nhất họ có thể. Thành công tự xác định mình; chỉ có một thất bại đó là đầu hàng. Về bản thân mình, tôi đã học được rất nhiều từ Học viện cũng như đã dạy rất nhiều. Tôi đã nhận lại được rất nhiều – sự thỏa mãn về trí tuệ, làm mới tính tò mò, cảm giác kết nối với các bộ óc khác, với mọi người – nhiều hơn những gì tôi đóng góp. Niềm hy vọng của tôi là mỗi học viên của Học viện và mỗi bạn đọc của cuốn sách này cũng sẽ có cơ hội để nói như vậy.

Người dịch: Đào Minh Châu.

Bài gốc trên Hocthenao.vn xin xem tại đây