Cách xử sự thể hiện trình độ văn minh của xã hội

“Đảm bảo quyền bình đẳng cho người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) rất quan trọng đối với xã hội.

Ông Tobias Barrington Wolff – Ảnh: Hiếu Trung

Việc tạo cơ hội cho họ hòa nhập với cộng đồng, lập gia đình, nuôi dạy con cái, theo đuổi cuộc sống hạnh phúc là cách hiệu quả để tạo ra một xã hội phát triển hài hòa. Đó là điều quan trọng nhất” – giáo sư luật Mỹ Tobias Barrington Wolff (*) nói với TTCT khi ông đến Việt Nam đầu tháng 6 này.

* Ông có thể cho bạn đọc biết thêm về luật pháp quy định hôn nhân đồng giới tại Mỹ?

– Năm 1996, Quốc hội Mỹ thông qua và tổng thống Bill Clinton ký ban hành luật “bảo vệ hôn nhân” (DOMA), từ chối công nhận hôn nhân đồng tính. Các cặp đôi đồng tính kết hôn hợp pháp theo luật pháp bang không được chính quyền liên bang công nhận và họ sẽ không được hưởng các quyền lợi về thuế, tài sản theo luật liên bang. Khi luật DOMA có hiệu lực, chưa một bang nào tại Mỹ ra luật cho phép hôn nhân đồng giới. Đây thực tế là một đòn phủ đầu chính phủ thực hiện nhằm ngăn chặn hôn nhân đồng giới. Tuy nhiên, sau đó một số bang tại Mỹ bắt đầu công nhận hôn nhân đồng giới.

Tháng 6-2013, Tòa án tối cao Mỹ xét xử vụ kiện của góa phụ Edie Windsor và ra phán quyết khẳng định DOMA vi phạm hiến pháp Mỹ, vi phạm phẩm giá con người, coi người đồng tính là “công dân hạng hai”. Kể từ đó, các cặp đồng tính kết hôn hợp pháp theo luật pháp bang được chính quyền liên bang công nhận. Sau đó, nhiều vụ kiện chống lại luật cản trở hôn nhân đồng giới cũng diễn ra ở các bang khác. Nhiều phiên tòa ra phán quyết ủng hộ hôn nhân đồng giới. Tính đến nay đã có 20 bang tại Mỹ công nhận hôn nhân đồng giới.

Ngày 27-5-2014, dự thảo Luật hôn nhân và gia đình (sửa đổi) đã được Quốc hội thảo luận, trong đó đề nghị chuyển điều khoản cấm hôn nhân cùng giới thành “nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”, đồng thời bỏ đi điều 16 quy định về việc chung sống giữa những người cùng giới tính.

Trung tâm ICS (Equal rights for LGBT) – một tổ chức người LGBT ở Việt Nam – gửi một bản kiến nghị tới Quốc hội, đề nghị bỏ điều khoản Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. (Điều 8, khoản 2 về điều kiện kết hôn), đưa trở lại điều 16 hoặc hoãn lại việc thông qua dự luật này vào ngày 19-6-2014 để nghiên cứu và cân nhắc thêm vấn đề này.

 * Người dân châu Á thường nghĩ rằng người Mỹ nói riêng và người phương Tây nói chung có quan niệm cởi mở về vấn đề này. Vậy tại sao ở Mỹ lại có sự phản đối nặng nề đối với hôn nhân đồng giới?

– Sự phản đối hôn nhân đồng giới ở Mỹ chủ yếu xuất phát từ lý do tôn giáo, bởi tôn giáo chủ đạo ở Mỹ là Thiên Chúa giáo. Tuy nhiên điều này cũng không hoàn toàn chính xác. Trên thực tế ở Mỹ có rất nhiều người theo đạo Thiên Chúa ủng hộ hôn nhân đồng giới và sự bình đẳng trong hôn nhân.

Theo quan điểm của tôi, một trong những yếu tố chống đối sự bình đẳng dành cho người LGBT xuất phát từ mặc cảm giới tính và thiên hướng tính dục. Ở Mỹ, một số người phản đối người LGBT và hôn nhân đồng giới mạnh mẽ nhất lại là những người cảm thấy xấu hổ với thiên hướng tính dục của chính bản thân mình.

Tôi tin rằng một trong những bài học mà người LGBT đem lại cho thế giới chúng ta là học cách trưởng thành về tính dục và vượt qua mặc cảm với chính bản thân. Khi đối thoại với những người LGBT nhiều nơi trên thế giới, tôi nhận ra rằng cảm nhận chung của họ là buộc phải chấp nhận sức ép của cộng đồng, chấp nhận thông điệp mặc cảm và tội lỗi về thiên hướng tính dục mà cộng đồng đổ lên đầu họ.

Cộng đồng người LGBT đã phát triển những công cụ, nguồn lực để phản kháng thông điệp mặc cảm, tội lỗi đó. Đó là cơ chế tồn tại của người LGBT nhưng cũng là bài học quý giá cho thế giới.

* Những người phản đối cho rằng hôn nhân đồng giới hủy hoại truyền thống hôn nhân gia đình. Điều đó có đúng không?

– Đây là lý do những người phản đối ở Mỹ thường hay viện tới rằng hôn nhân đồng giới gây phương hại mô hình hôn nhân truyền thống. Tôi làm luật sư về quyền dân sự trong nhiều năm và tham gia nhiều vụ kiện liên quan đến LGBT, chưa bao giờ gặp một cặp vợ chồng bình thường nào nói rằng cuộc hôn nhân của họ sẽ đổ vỡ vì một cặp đôi đồng tính ở đâu đó kết hôn hợp pháp.

Cũng chẳng có ai nói rằng họ sẽ nghĩ khác về hôn nhân hay gia đình họ sẽ rối loạn vì một cặp đồng tính ở khu phố gần nhà kết hôn với nhau. Những người phản đối viện ra lý do này để bảo vệ cho một ý tưởng cũ kỹ. Nhưng hôn nhân đồng tính không ảnh hưởng đến các cuộc hôn nhân thông thường hay các gia đình. Điều ảnh hưởng đến cuộc hôn nhân và gia đình của chúng ta là cách chúng ta đối xử với người thân của mình.

* Một số người phản đối cho rằng người đồng tính thường có nhiều bạn tình, có quan hệ tình cảm ngắn ngủi, không bền vững, do đó không cần kết hôn. Ông đánh giá thế nào về quan điểm này?

– Chúng ta nên phân biệt các thông tin trung thực và không trung thực về người LGBT. Bởi những người phản đối không ít lần đưa ra những quan điểm xuyên tạc, bôi nhọ họ, khiến cộng đồng và xã hội bị lạc hướng. Tôi xin lấy một ví dụ cụ thể. Ở Mỹ, giáo sư luật Lynn Wardle thuộc Trường Luật J. Reuben Clark thường xuyên viết bài phân tích về người LGBT. Có lần ông ấy viết một bài chỉ trích rằng người đồng tính có quan hệ không bền, nhiều bạn tình nên hôn nhân đồng tính là không cần thiết, họ không nên lập gia đình và nuôi dạy con cái.

Ông ấy trích dẫn một nghiên cứu nói rằng người đồng tính có quan hệ tình cảm trung bình chỉ khoảng 18 tháng và trong thời điểm nào cũng có nhiều bạn tình. Tuy nhiên khi xem xét kỹ, tôi phát hiện ông ấy dùng nghiên cứu của một nhóm chuyên gia HIV ở Amsterdam (Hà Lan). Khi đó, họ khảo sát một nhóm thanh niên đồng tính có nguy cơ nhiễm HIV cao. Họ hoàn toàn không đại diện cho toàn bộ người đồng tính nam và nữ trên thế giới.

Trên thực tế, nhiều khảo sát ở Mỹ về gia đình và trẻ em cho thấy khi một cặp đôi có quan hệ lành mạnh, chăm sóc tốt cho con cái, có nguồn lực tài chính thì việc cặp đôi đó là người đồng tính hay người bình thường hoàn toàn không quan trọng. Nhiều người thường đưa ra giả định bởi họ thiếu thông tin cần thiết hoặc không trung thực. Điều quan trọng là chúng ta phải tìm hiểu và xác minh những thông tin kiểu này.

* Vậy công nhận hôn nhân đồng giới có lợi cho xã hội như thế nào?

– Vấn đề là người LGBT tồn tại, các cặp đôi đồng tính tồn tại. Và họ sẽ tiếp tục tồn tại dù pháp luật có quy định như thế nào đi chăng nữa. Vấn đề đặt ra không phải là việc người LGBT và các gia đình đồng tính có tồn tại hay không. Có hàng triệu người LGBT ở Mỹ và tôi tin có rất nhiều người LGBT ở Việt Nam. Những người phản đối nghĩ rằng nếu không đề cập đến hôn nhân đồng giới hay bình đẳng giới tính thì người LGBT sẽ biến mất, vấn đề sẽ được xóa đi. Điều đó là không tưởng. Người LGBT có một chỗ không thể xóa bỏ trong cộng đồng.

Đảm bảo quyền bình đẳng cho LGBT rất quan trọng đối với xã hội. Việc tạo cơ hội cho họ hòa nhập với cộng đồng, lập gia đình, nuôi dạy con cái, theo đuổi cuộc sống hạnh phúc là cách hiệu quả để tạo ra một xã hội phát triển hài hòa. Đó là điều quan trọng nhất. Người LGBT phải được tạo cơ hội bình đẳng như mọi người.

Sẽ là không thể chấp nhận được và vô cùng tai hại nếu người LGBT và gia đình họ không được đối xử công bằng, bị xem là công dân hạng hai trong xã hội. Một chính phủ không thể cách ly một bộ phận của cộng đồng và nói đơn giản rằng các người sẽ là công dân hạng hai mãi mãi.

Một nhà thông thái từng nói rằng: “Không gì xuất phát từ con người là xa lạ đối với bản thân tôi”. Chúng ta phải thừa nhận rằng người LGBT cũng là những con người trong xã hội, trải nghiệm của người LGBT là một phần của trải nghiệm con người. Người LGBT là một phần của cộng đồng. Khi nhận thức được điều đó, chúng ta sẽ biết cách ứng xử bình đẳng đối với họ.

Hơn nữa, cách xã hội ứng xử với người LGBT phản ánh liệu xã hội đó có đối xử với tất cả người dân của mình một cách bình đẳng và tôn trọng hay không. Đó là thước đo đánh giá sự hiện đại và văn minh của một xã hội. Bởi người LGBT là một phần của cộng đồng, họ phải được tham gia hòa nhập vào cộng đồng. Điều đó sẽ có lợi cho mọi người.

Xin cảm ơn giáo sư.

Tôi rất ấn tượng với những điều được nghe và thấy tại Việt Nam. Sự phát triển đó không dễ đạt được ở nhiều nơi khác và nó không xảy ra một cách tự động. Những thay đổi lớn ở Việt Nam cho tôi biết rằng ở đất nước của các bạn có rất nhiều người chủ động suy nghĩ và trăn trở về những câu hỏi cơ bản đối với xã hội. Đó là họ muốn sống trong một xã hội như thế nào và tương lai của xã hội đó.

Tôi được biết Quốc hội Việt Nam đang xem xét chuyển điều khoản cấm hôn nhân đồng giới thành không công nhận hôn nhân đồng giới và bỏ quy định về việc chung sống giữa người đồng giới. Điều đó có thể xuất phát từ truyền thống. Theo tôi, vấn đề cơ bản là không nên áp đặt một quan niệm lên mọi người, dù quan niệm đó xuất phát từ tôn giáo hay truyền thống và văn hóa.

Theo HIẾU TRUNG / Tuổi Trẻ Cuối Tuần

Bài gốc có thể xem tại đây.

(*): Chuyên gia Tobias Barrington Wolff là giáo sư luật của Trường Luật ĐH Pennsylvania và thành viên Viện Luật pháp Mỹ. Ông là cố vấn về chính sách đối với người LGBT trong chiến dịch vận động tranh cử năm 2007-2008 của Tổng thống Barack Obama.

Trong chuyến thăm TP.HCM mới đây, giáo sư Wolff đã nói chuyện về chủ đề bình đẳng hôn nhân và những nguyên tắc pháp trị tại Mỹ sau đạo luật “Bảo vệ hôn nhân” cấm kết hôn đồng tính tại Mỹ với các giảng viên, sinh viên Học viện Hành chính quốc gia và ĐH Luật.

Mỹ phạt tù Hoa hậu phu nhân Việt Nam toàn cầu

Tristine Trâm Bùi – người đoạt giải trong một cuộc thi mang tên Hoa hậu Phu nhân Việt Nam toàn cầu 2012 vừa bị một tòa án ở Seattle, bang Washington (Mỹ) xử án tù ba năm vì tội trồng cần sa trái phép.

 

“Cuộc chiến của con”: Biết rõ tố chất của chính mình

1Phải thừa nhận một thực tế trong xã hội hiện nay là cha mẹ có điều kiện về kinh tế không ai để con mình phải chịu thiệt thòi.

LTS: Tham gia Câu chuyện cuộc sống “Cuộc chiến của con” (xem TTCT số đề ra ngày 15-6) là bài viết từ hai góc nhìn khác nhau của hai người lớn, nhưng họ gặp nhau ở chỗ: người trẻ nên biết mình muốn gì.

Họ quan niệm làm cũng chỉ vì con, nên nhiều cha mẹ đã áp đặt con cái theo ý mình mà không quan tâm ước mơ của con ra sao, nhận thức vấn đề thế nào, nhất là trong việc chọn ngành học, chọn nghề… dẫn đến đôi lúc phải “cược với rủi may”. Có bạn nghe lời cha mẹ (có thành công, có thất bại), nhưng không hiếm bạn phản ứng ngay từ đầu.

Trường hợp M.T., bạn không thể hiện “ra mặt” sự không đồng tình, nhưng bạn băn khoăn dùng dằng, vừa thương cha mẹ kiếm được đồng tiền phải một nắng hai sương, vừa cảm thấy bản thân bị áp lực bởi mong muốn của cha mẹ. Ở đây, sự việc đã rồi, dù sao bạn cũng đã biết nên không phân tích việc làm của cha mẹ bạn như bỏ tiền ra chạy trường, chạy hộ khẩu là đúng hay sai, nên hay không nên.

Họ đã xuất phát từ mong ước (thiện chí) cho con có được một trường học tốt (để phát huy), vào được trường đại học mơ ước (của cha mẹ) phù hợp với học lực của con (chưa bàn đến năng lực).

2. Điều cần giải quyết ở đây là những “lăn tăn” trong lòng bạn. Bạn sẽ đi vào đời bằng sự sắp đặt của cha mẹ hay tự giải quyết mọi việc theo cách riêng của mình? Con đường bạn đi sẽ còn rất dài, nhiều va vấp, thuận lợi và khó khăn mức độ như nhau. Vấn đề là chính bạn, bạn có thấy mình đủ tố chất để làm một bác sĩ sau này hay không?

Có bao giờ bạn tự hỏi lòng mình đã thật sự yêu thích ngành y hay chưa? Bạn có lường được hết những khó khăn gặp phải khi học y khoa và liệu ra trường bạn sẽ là một bác sĩ tốt, giúp ích cho đời? Nếu bạn thật sự tin rằng mình có đầy đủ tố chất của một người thầy thuốc như biết cách tạo sự tin cậy, cảm thông, biết làm giảm nỗi đau và an ủi người khác, có khả năng quan sát, phán đoán tốt, có lòng nhân đạo, thương người, có sự kiên trì, nhẫn nại, can đảm, cẩn thận, tỉ mỉ, trung thực, thẳng thắn, thành thật…

Nói chung là có cái tâm của một người thầy thuốc thì tôi nghĩ, bạn theo ý cha mẹ hay theo ý bạn không thành vấn đề. Bởi mục đích cuối cùng bạn sẽ làm công việc phục vụ con người với tấm lòng nhân ái, tận tụy, suốt đời vì tha nhân. Và nếu bạn đạt được mục đích giúp ích cho đời, không vụ lợi, nguyện đem hết tài năng, kiến thức vì mục đích cao cả thì việc làm (chạy) của cha mẹ bạn ngày hôm nay cũng sẽ có ý nghĩa.

3. Trong bối cảnh hiện tại, khi xã hội gần như “bình thường” mọi việc “không bình thường”, như bạn từng viết: “Một thỏa hiệp thông thường mà ai ai cũng tuân theo như một sự khôn ngoan (?) mang tính thời thượng” thì việc bạn thuận theo ý cha mẹ cũng là một trong những điều bình thường. Chỉ mong rằng bạn không lấy đó làm “kim chỉ nam” trong xử thế sau này và trong việc giáo dục thế hệ tiếp nối.

Quan trọng là dù bạn học Đại học Y dược hay Y khoa Phạm Ngọc Thạch, bạn cũng sẽ cố gắng học tốt để trở thành người bác sĩ tốt, có đủ 10 đức tính cần thiết của một bác sĩ tương lai (*): thông minh, lòng quan tâm về khoa học, một nhân cách thu hút, sức mạnh tinh thần và thể lý, khả năng có thể chấp nhận và dung dưỡng những bất trắc và ưu tư thất bại, có thói quen tổ chức công việc tốt, khả năng tự học hỏi, ý thức thực tế xã hội, thành quả thực hiện, óc sáng tạo.

Đó cũng là mong ước của cha mẹ bạn và bạn khẳng định được mình đứng vững và đi trên chính đôi chân của mình. Được như vậy, dù cha mẹ bạn có “trải thảm” cho bạn những bước đi đầu đời cũng là việc làm có ý nghĩa. Hãy vì con đường dài, tương lai phục vụ tha nhân mà bỏ qua những suy nghĩ “lăn tăn” không cần thiết phải suy nghĩ.

Như vậy bạn đã “dám sống thật với chính mình, dám đối diện với khó khăn và học cách thoát khỏi nghịch cảnh”, những năm tháng gian khó trong trường y và sau này làm trong ngành y bạn sẽ gặp phải rất nhiều “cuộc chiến” với những tình huống còn khó khăn, khó xử hơn bội phần.

Theo KIM DUY / Tuổi Trẻ Cuối Tuần

(*): Theo www.giohocduong.vn/

——————————————

Hoàn cảnh của T. là đặc trưng của rất nhiều hộ gia đình chọn TP.HCM là nơi lập nghiệp. Câu chuyện của T. quá điển hình khiến người ta dễ dàng lướt qua trong dòng thông tin ăm ắp của báo. Tôi không quen T., nhưng ưu tư của em về sự công bằng, về việc em tước đi cơ hội của người khác khiến tôi có một số suy nghĩ xoay quanh vấn đề này.

Sự công bằng ép buộc?

“Tôi thích sự cân bằng khi có thêm nhiều thắc mắc như của T., theo chiều kích tăng lên của điều tốt, của tri thức trong trẻo”

Câu chuyện mà T. chia sẻ với tư vấn viên chỉ dừng lại ở kỳ thi đại học năm nay. Ở đó, chiếc hộ khẩu – có – mùi – tiền của gia đình em mở ra cánh cửa cuộc đời em, nhưng như chính em băn khoăn, “vì ba mẹ em có tiền nên em đã lấy đi của ai đó một cơ hội”. Thế nhưng hộ khẩu chỉ là điều kiện cần điều kiện đủ là điểm số từ kỳ thi đại học vào tháng 7 này.

Đại học y Phạm Ngọc Thạch hay Đại học Y dược TP.HCM? Không ai có thể nói trước kết quả dù có cầm trong tay chiếc bìa hộ khẩu! Rồi con đường học tập khắc nghiệt của trường y trong 6-7 năm và sau đó nữa, liệu em có trụ lại được sự chuẩn bị gian nan cho một người thầy thuốc? Xa hơn nữa, khi em ra trường, bệnh nhân sẽ không hỏi em học trường Y Phạm Ngọc Thạch hay Y dược TP.HCM để trao gửi sinh mệnh.

Với người bệnh, có lẽ màu áo blouse trắng tự nó đã chứng nhận người xứng đáng khám chữa bệnh cho họ. Lúc đó em sẽ thấy những đặc quyền mà em có không ảnh hưởng nhiều đến tương lai. Trở thành bác sĩ được thừa nhận hay không tùy thuộc vào bản thân T. chứ không phải nhờ cha mẹ cho em hộ khẩu!

Khi tôi kể câu chuyện của T. cho bạn bè, không ít người đã sửng sốt. Hình như có điều gì không phù hợp trong giá trị hiện tại của xã hội. Thang đo về công bằng hiện tại của những kẻ U-30, U-40 là cơ hội kiếm tiền, thật nhiều tiền cho bản thân. Không ai lo lắng xem tiền đó đến từ đâu và sẽ lấy lại thứ gì trong cuộc đánh đổi giữa các bên. Chỉ có T. là lo lắng về sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận cánh cửa Đại học Y Phạm Ngọc Thạch của những người bạn cùng độ tuổi.

T. ý thức việc dùng tiền lo lót hộ khẩu là sai, nhưng trong suy nghĩ của cha mẹ T., việc đó khá bình thường. Phải chăng đó là lý lẽ mà người lớn chúng ta đang vin vào? Phải chứng kiến những cuộc đổi chác ghê gớm thì việc cố gắng lo lót hộ khẩu cho con là điều chính đáng. Công bằng của cha mẹ T. là công bằng về nhân quả. Với họ, đền đáp cho cuộc sống vất vả từ Bình Định vào TP.HCM mưu sinh phải là tương lai rực rỡ của người con.

Tương lai đó có sự an nhàn tuổi già của họ. Đó là lẽ công bằng của cuộc sống. Do đó, có phải chạy tiền cho việc học của con, cho hộ khẩu TP.HCM thì họ vẫn sẽ làm (dù đồng tiền kiếm được rất vất vả). Tôi tạm gọi đây là sự công bằng ép buộc, khi cha mẹ choàng gánh trách nhiệm báo đáp cho T. bằng việc làm mọi cách cho em vào được Trường đại học Y Phạm Ngọc Thạch.

Xã hội cần thêm những thắc mắc trong trẻo

Trong suốt câu chuyện của T., em chỉ là một nhân vật mờ nhạt! Toàn bộ bức thư chỉ thấy T. là con người của bổn phận. T. có trách nhiệm học giỏi vì thấy cha mẹ quá vất vả. T. thấy mình cần thi y dù còn băn khoăn về môn hóa, về việc hộ khẩu và cơ hội của người khác.

Tại sao T. không nói chuyện với cha mẹ về nguyện vọng thật của em? Em có thật sự thích hợp với trường y? Nếu em chọn một trường khác phù hợp với em hơn, liệu chuyện hộ khẩu có còn ám ảnh em không? Gia đình em có cần tốn tiền cho người ta? Và chúng ta có ngồi đây phiếm chỉ về chuyện công bằng?

Lúc này câu chuyện lại hướng về vấn đề muôn thuở của xã hội chúng ta vào mỗi mùa thi, về việc chọn trường cho con và kỳ thi cho cả gia đình. Và năm nay nó hiện ra dưới một góc độ khác. Âu cũng nên vui vì trong vô vàn chua xót trong cuộc sống còn một tiếng nói dè dặt về lẽ phải của một em học sinh (dù nhìn về em, tôi thấy còn nhiều ưu tư khác).

Vài điều dông dài với tâm tư của một em học sinh đang bỡ ngỡ bước vào cánh cửa trưởng thành. Công bằng hay không công bằng? Khó mà định danh cho rõ vì bản thân từ này đã mang một khái niệm trừu tượng! Chỉ biết nhắn em bằng bài học của thầy giáo tôi rằng: Chẳng có khái niệm công bằng tuyệt đối, vì con người sinh ra đã hàm chứa sự không công bằng.

Nói để biết, không có ai tuyệt đối đúng hay tuyệt đối sai, cũng giống như công bằng không thể đi cùng khái niệm tuyệt đối, mà chỉ có thể công bằng tương đối bằng những thỏa thuận chấp nhận được! Xã hội này vẫn sẽ cân bằng dù thêm hay bớt những tiếng nói của T.. Người lớn sẽ có cách thỏa hiệp với sự chông chênh. Nhưng tôi thích sự cân bằng khi có thêm nhiều thắc mắc như của T., theo chiều kích tăng lên của điều tốt, của tri thức trong trẻo.

Theo LAN HƯƠNG / Tuổi Trẻ Cuối Tuần

Bài gốc có thể xem tại đây.

Cuộc chiến của con

LTS: “Câu chuyện cuộc sống” số này giới thiệu câu chuyện của một tư vấn viên tâm lý học đường, người vừa nhận được một email của một nam sinh khiến chị suy nghĩ.

Minh hoạ: Bích Khoa

Được phép của em, chị giới thiệu với độc giả TTCT nguyên văn email. TTCT mời bạn, những người trẻ như M.T. hay những người cùng thế hệ với cha mẹ M.T. tham gia ý kiến về “cuộc chiến” giữa hai thế hệ này.

“Thưa cô.

Cô là một người biết nhiều, cô cũng là bạn của những người còn nhỏ tuổi như con. Nhiều lần con thấy địa chỉ email của cô trên hộp thư (Điều em muốn nói). Vậy cô có thể giúp con không?

Con tên T., là một học sinh lớp 12. Năm nay con thi tốt nghiệp phổ thông trung học và sau đó sẽ thi vào đại học. Con là con trai duy nhất của ba mẹ, sau con còn một em gái nhỏ. Gia đình con từ tỉnh Bình Định chuyển vào định cư ở TP.HCM được ba năm. Ba mẹ làm nghề buôn bán tự do nên chỗ nào thuận tiện cho việc buôn bán là ba mẹ con chuyển đến.

Trong ba năm, gia đình con sống trên ba quận khác nhau nhưng con vẫn học tại một trường công tương đối có tiếng nhờ một người chú họ xa làm tại một phòng giáo dục quận X xin cho con vào học. Nghe ba mẹ thì thầm với nhau là hai người cũng mất một khoản tiền kha khá lớn cho việc “chạy chọt” này. Tiền vào túi ai con không biết, nhưng con biết chú con chỉ giúp vì tình nghĩa ruột thịt.

Con thương ba mẹ con. Hai người chuyển vào đây cũng vì con. Vì tương lai của con, họ từ bỏ ngôi nhà thương yêu, xóm giềng, bè bạn, công việc làm ăn ổn định, môi trường quen thuộc và nhiều thứ khác… Con thương ba mẹ con, làm ra đồng tiền không dễ chút nào, cũng từ mồ hôi nước mắt chứ có xin được của ai… Vì vậy con cũng cố học lắm cô à. Suốt ba năm cấp III lúc nào con cũng thuộc vào top 5 của lớp.

Thế nhưng cô ơi, khoảng đầu năm lớp 12, con để ý ba mẹ con rộn ràng dự tính một điều bí mật. Một mặt hai người nhờ một người thầy nổi tiếng kèm riêng cho con môn hóa và cả hai khuyến khích con làm hồ sơ thi y khoa. Mặt khác, qua nhiều trung gian, ba mẹ con “mua” hộ khẩu thành phố để con có thể vào thẳng Trường y dược Phạm Ngọc Thạch (*).

Ba mẹ con hiểu rằng con chỉ giỏi toán lý (khối A) mà chưa bao giờ xuất sắc hóa, sinh (khối B). Và con chắc chắn chưa đủ khả năng thành sinh viên Trường Y dược TP.HCM.

Con tình cờ nghe được ba mẹ con ngã giá với vài người “cò” về một cái hộ khẩu. Vẫn biết sự ưu tiên về hộ khẩu là cái gì vô lý nhất với một công dân trên đất nước đã ổn định về chính trị, nhưng con vẫn thấy có gì đó không hay trong chuyện mua bán này cô à. Giấy thông hành vào đời của con có một vết đen khuất tất, có thể ba mẹ con có tiền nên con sẽ lấy đi cơ hội của một ai đó. Phải vậy không cô?

Nếu con có rớt y dược TP.HCM, con nghĩ con sẽ làm thêm để có tiền thi thêm lần nữa. Con không muốn ba mẹ dùng tiền (dù là đồng tiền sạch sẽ) để trải cho con đường của con bớt chông gai. Con muốn con đi bằng đôi chân của con. Con muốn vào đời bằng con đường thẳng ngay hơn là một sự thỏa hiệp ngầm giữa ba mẹ và một thế lực nào đó giấu mặt. Một thỏa hiệp thông thường mà ai ai cũng tuân theo như một sự khôn ngoan(?) mang tính thời thượng.

Nếu như con nghe theo lời ba mẹ, có thể con đường sự nghiệp của con sẽ suôn sẻ hơn. Nhưng rồi trong tâm tưởng con sẽ không tin vào chính con, con sẽ có cảm giác mình đánh mất chính mình, mình là con rối của số phận.

Thế nhưng chống lại quyết định của ba mẹ, hai người yêu thương con nhất ư? Con thấy lương tâm con cũng cắn rứt lắm. Có phải mình là đứa con bất hiếu không? Con có tàn nhẫn quá không? Cả hai lo lắng và hi sinh cho con tất cả, sao con nỡ từ chối sự lo lắng hi sinh đó? Con cảm thấy lòng mình nghiêng ngả, lúc thì muốn vâng lời cho ba mẹ vui, lúc cảm thấy buồn khổ như mình đánh mất điều gì quý giá.

Con đọc thấy đâu đó nói rằng: Cốt cách chính là mình dám sống thật với chính mình, dám đối diện với khó khăn và học cách thoát khỏi nghịch cảnh.

Phải chăng khi con nghe theo sự xếp đặt thuận lợi của ba mẹ thì con đánh mất cái gọi là cốt cách? Có gì để tự hào về chính mình trong khoảng đời còn rất dài phía trước hả cô?

Cuộc chiến của con chính là cuộc chiến khổ tâm nhất khi con không muốn chống lại quyết định của hai người mà con thương yêu và kính trọng nhất trên đời cô à. Cô hãy cho con lời khuyên đi cô… M.T.”.

Theo BẢO NHI (giới thiệu) / Tuổi Trẻ Cuối Tuần

Bài gốc có thể xem tại đây.

(*): Trường y dược Phạm Ngọc Thạch chỉ tuyển sinh những thí sinh có hộ khẩu tại TP.HCM, thông thường trường này có điểm thi tuyển không cao như của Đại học Y dược TP.HCM.

Cô gái Việt có học bổng 6 tỷ, học một lúc 2 trường tại Mỹ

Nguyễn Ngọc Minh Trang hiện là sinh viên năm thứ 3 của đại học Columbia (New York, Mỹ), nằm trong hệ thống 8 trường Ivy League danh giá nhất nước Mỹ.

Minh Trang hiện đang là thực tập sinh cho dự án MSS thuộc công ty IDG Ventures thông quaSEO Vietnam – một tổ chức tạo điều kiện cho giới trẻ cơ hội thực tập ở các công ty lớn tại Việt Nam.

Trước đó, Trang nhận học bổng toàn phần trị giá 280.000 USD cho 5 năm (tương đương gần 6 tỷ đồng). Theo học chương trình 3-2 của hai trường đại học Whitworth và đại học Columbia. Cô sẽ tốt nghiệp vào năm 2015 với hai bằng: Cử nhân ngành Vật lý và Kỹ sư điện.

Bước khởi đầu đầy tự tin

Từ khi vào lớp 10, Minh Trang đã nuôi ước mơ đi du học. Cô và gia đình nghĩ đó là thời điểm tốt nhất để đi vì sẽ có nhiều thời gian hơn để trau dồi kỹ năng và chuẩn bị cho đại học tốt hơn.

Tiền học phí cấp 3 tại Mỹ cũng không quá cao nếu có người thân ở Mỹ nên Trang đã đi Mỹ từ năm lớp 10. Khi ấy, cô gái này đã có lượng kiến thức toán và khoa học ở Việt Nam đủ giỏi để dẫn đầu trường môn Toán, và Hóa, và lấy lớp của đại học từ năm 11 (Running Start Program).

Cô gái Minh Trang.
 Minh Trang.

Những ngày đầu trên đất Mỹ, Trang không hề sốc văn hóa như những du học sinh khác. “Trước khi đi, mình luôn nghĩ sẽ đi đến một vùng đất mới, luôn có trong đầu tinh thần học hỏi hết mình, khiêm tốn, sẵn sàng chịu khổ chịu khó. Vì mình biết là không phải con đường nào cũng trải hoa hồng, không phải mơ ước nào cũng dễ dàng”- Minh Trang chia sẻ.

Điều đáng sợ nhất mà nữ sinh này từng trải qua là đối diện với rào cản ngôn ngữ. Mặc dù là một học sinh học tiếng Anh rất khá nhưng cô chia sẻ: “Mình gặp rất nhiều khó khăn vì dù cố gắng mấy thì tiếng Anh của mình cũng không thể hoàn hảo như các bạn sinh ra và lớn lên ở Mỹ”.

“Mỗi ngày mình đều dành vài giờ để ôn thi, viết nhật k, nghe nhạc tiếng Anh… Quan trọng hơn hết là mình được gặp một cô giáo trong trường sẵn sàng giúp đỡ học sinh nhiệt tình, nên những bài luận trong hồ sơ đăng ký vào đại học của mình đều được cô đọc lại và giúp chỉnh sửa văn phạm. Mình cảm thấy rất may mắn vì đã gặp được cô”, Minh Trang nhớ lại.

Vượt qua được thử thách, Minh Trang cảm thấy: “Khó khăn là một phần cần thiết trên chặng đường để mình lớn khôn” và thêm vững tin trên con đường du học Mỹ mà mình đã chọn.

Nhà khoa học nữ là điều bình thường

Trong suốt các năm học đại học, Trang tham gia vào nhiều chương trình thực tập và nghiên cứu, trong đó phải kể đến việc lắp ráp và chế tạo robot, nghiên cứu về thuyết giãn nở của vũ trụ.

Điểm trung bình (GPA) của Trang: 3.72/4.0, tương đương với loại xuất sắc của Việt Nam.

Được tiếp xúc với một trong những nền giáo dục hàng đầu thế giới, Minh Trang càng cảm thấy bản thân cần phải học hỏi và tìm tòi nhiều hơn. Quá trình săn học bổng của cô kéo dài suốt những năm cấp 3 tại Mỹ. Khi đó, Trang đã cố gắng hoàn thành những chỉ tiêu mà học bổng lớn thường đòi hỏi. Đến lúc xin học bổng (khoảng đầu năm lớp 12), cô đã có trong tay nhiều thành tích tốt để có thể nổi bật hơn những ứng cử viên khác.

Minh Trang tại Mỹ.
Minh Trang tại Mỹ.

Một kinh nghiệm nữa để có thể săn học bổng của Minh Trang là sự khiêm nhường. “Mình nghĩ học sinh Việt Nam rất giỏi về học vấn nhưng nhiều bạn bỏ sót những yếu tố quan trọng khác mà các nhà tài trợ học bổng rất quan tâm đó là tài năng lãnh đạo và phục vụ cộng đồng. Nếu được thì các bạn nên tham gia nhiều cuộc thi trong nước và ngoài nước để bổ sung thêm nhiều thành tích cho bản đăng kí của các bạn. Thái độ của mình khi phỏng vấn cũng như trong luận văn cũng rất quan trọng. Thái độ bình tĩnh và khiêm tốn đôi khi có thể làm thay đổi toàn bộ kết quả của các bạn”.

Chia sẻ về ngành Vật lý và Kỹ sư điện đang theo học, Minh Trang vui vẻ: “Ngành nghề này có lẽ là hiếm nữ giới, nhưng theo mình, cái quan trọng nhất là khả năng và đam mê của mỗi người. Từ nhỏ, mình đã rất yêu thích môn Toán và khoa học. Mình nghĩ ngành Vật lí và Kỹ sư sẽ là những áp dụng tốt nhất của Toán học. Hơn nữa, theo mình thì 2 ngành nghề ấy có thể giúp ích cho xã hội sau này”.

Điểm mạnh của trường cấp 3 bên Mỹ là trường có rất nhiều những hoạt động ngoại khóa như đội Toán và robot. Chính vì thế, ngay khi còn học cấp 3 Minh Trang đã có cơ hội học hỏi và thực hành lắp ráp robot, cũng như kỹ năng lập trình, lắp ráp mạch điện… để có thể thỏa mãn niềm đam mê khoa học kỹ thuật.

Hè năm lớp 11, cô được nhận làm nghiên cứu 3 tháng tại đại học Hawaii at Manoa để nghiên cứu thêm về lập trình robot. Chia sẻ về kỷ niệm đáng nhớ này, Trang hào hứng: “Bước khởi đầu luôn khó khăn vì mình chưa biết gì về robot, trong khi những người khác cùng tham gia lại rất giỏi. Nhưng nhờ vậy mà mình lại học hỏi thêm được nhiều kiến thức”.

Khoa học, kỹ thuật là một lĩnh vực rộng lớn mà Minh Trang luôn tò mò và yêu thích muốn tìm hiểu thêm. Nhờ có sự chỉ dẫn ban đầu của thấy giáo có kiến thức về lĩnh vực này mà cô bạn tự tìm tòi học hỏi thêm dần dần, để thỏa mãn sự yêu thích của mình. Hiện tại cô vẫn còn một năm để hoàn thành cử nhân và vừa được nhận vào chương trình thạc sĩ đặc biệt ở Columbia University, nên Trang sẽ ở lại New York học ít nhất 2 năm nữa. Đồng thời, Trang cũng rất mong muốn có cơ hội mang các kiến thức đã học được từ đất Mỹ về Việt Nam để có thể góp sức phát triển đất nước.

Theo Tùng Lâm / Zing News

Bài gốc có thể xem tại đây.