Quái vật đảo Jekyll (Ch.15): Lịch sử ra đời đồng đô la Mỹ

Nguồn: G. Edward Griffin, “The Lost Treasure Map”, in G.E. Griffin, The Creature from Jekyll Island: A Second Look at the Federal Reserve (5th Edition) (California: American Media, 2010), Chapter 15.

Biên dịch: Nguyễn Thị Thu | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nội dung chính: Một trải nghiệm cay đắng về tiền định danh của các thuộc địa Mỹ; quyết tâm của những người khai quốc để ngăn chặn quốc gia mới hình thành sử dụng tiền giấy mà không có (kim loại quý) đảm bảo; việc soạn thảo hiến pháp nhằm mục đích đó; sự ra đời của một đồng đô la Mỹ thực thụ; sự thịnh vượng hình thành sau đó.

Trong thời kỳ vàng son của radio, trên chương trình của Edgar Bergen, ông thường hỏi hình nộm Mortimer Snerd của anh ta rằng “Sao mày có thể ngốc đến thế?”. Và ông luôn nhận được câu trả lời giống nhau. Sau khi suy nghĩ một hồi trong vai Mortimer, ông tự đưa ra câu trả lời “Ừm, cũng không dễ chút nào”.

 

Khi chúng ta nhìn vào những vụ rối loạn tiền tệ xung quanh ta hiện nay – sự bốc hơi giá trị của đồng đô la và sự sụp đổ của các tổ chức tài chính – chúng ta bắt buộc phải hỏi: Làm thế nào chúng ta lại mắc vào tình trạng tồi tệ này? Và thật không may, câu trả lời của Mortimer khá phù hợp.

Để tìm ra làm thế nào chúng ta rơi vào tình trạng hiện nay, điều quan trọng là chúng ta cần biết chúng ta bắt đầu từ đâu và nơi tốt nhất để bắt đầu là Hiến pháp Hoa Kỳ. Trong điều I, mục 8 và 10 viết:

Quốc hội có quyền-

Vay tiền… để đúc tiền, quy định giá trị của đồng tiền đó và giá trị của ngoại tệ, cố định tiêu chuẩn trọng lượng và kích thước; …[và] đưa ra hình phạt cho việc làm tiền giả.

Không bang nào… được đúc tiền, phát hành hóa đơn tín dụng; [hoặc] tạo bất cứ thứ gì ngoài đồng vàng và bạc để thanh toán nợ.

Các nghị sĩ rất chính xác trong việc sử dụng từ ngữ. Quốc hội được trao quyền lực để “đúc tiền”, không phải in tiền. Cuốn Những nguyên tắc của luật hiến pháp (Principles of Constitutional Law) của Thomas M. Cooley giải thích rằng “đúc tiền nghĩa là dập những miếng kim loại để sử dụng làm phương tiện trao đổi trong thương mại theo một giá trị tiêu chuẩn cố định”. Điều bị cấm là “phát hành hóa đơn tín dụng”, thứ mà theo những bài phát biểu và bài viết của những người soạn thảo hiến pháp thì đó là in giấy ghi nợ (IOU), thứ được chủ ý lưu thông như tiền – hay nói cách khác, là việc in tiền định danh mà không được đảm bảo bởi vàng hoặc bạc.

Lúc đầu, có vẻ không gì có thể rõ ràng hơn. Sau đó, chính 2 điều khoản này đã trở thành nền móng cho hàng ngàn trang diễn giải mâu thuẫn nhau. Vấn đề then chốt là trong khi hiến pháp cấm các tiểu bang phát hành tiền định danh, nó không hề cấm cụ thể chính phủ liên bang làm điều đó. Đó thực sự là một thiếu sót vô ý không may của những người soạn thảo hiến pháp, nhưng họ có lẽ không bao giờ mơ thấy trong những cơn ác mộng điên rồ nhất rằng con cháu họ “có thể ngu ngốc đến vậy” đến mức không hiểu được ý định của họ.

Hơn nữa, “không dễ chút nào” nếu muốn hiểu sai ý họ. Tất cả những gì một người phải làm là nhìn vào lịch sử tiền tệ đã dẫn đến Hội nghị Lập hiến và đọc những lá thư được công khai cũng như các cuộc tranh luận của những người đã ký tên lên đạo luật nền tảng đó.

Khi đọc qua các tranh luận của hội nghị, chúng ta sẽ bị ngợp trước sự quan tâm về chủ đề tiền tệ mà các đại biểu mang đến hội nghị. Mỗi người trong số họ có thể nhớ từ trải nghiệm của bản thân về sự hỗn loạn vô cùng ở các thuộc địa (Bắc Mỹ) bị gây nên bởi việc phát hành tiền định danh. Họ kiên quyết phản đối nó một cách rõ ràng, và họ kiên quyết rằng tiền định danh không bao giờ nên được chấp nhận một lần nữa tại Mỹ – ở cả cấp tiểu bang hay liên bang.

Tiền giấy tại các thuộc địa

Trải nghiệm đầu tiên của các thuộc địa về tiền giấy là vào khoảng thời gian 1690 đến 1764. Massachusetts là nơi đầu tiên sử dụng tiền giấy như một công cụ cung cấp tài chính cho các cuộc tấn công quân sự vào thuộc địa Quebec của Pháp. Các thuộc địa khác nhanh chóng làm theo và chỉ trong vài năm, các thuộc địa sa vào việc in quá nhiều “hóa đơn tín dụng”. Không có một ngân hàng trung ương nào tham gia. Quá trình này rất đơn giản và trực tiếp như lý do đằng sao nó. Như một nhà lập pháp thuộc địa đã giải thích:

Thưa các quý ngài, các ngài có nghĩ rằng tôi sẽ đồng ý để cử tri của mình chịu nhiều loại thuế  trong khi chúng ta có thể gửi đến các thợ in và có được cả một toa xe chứa đầy tiền, mà một ít trong đó sẽ đủ chi cho tất cả mọi thứ hay không?[1]

Hậu quả của “sự khôn ngoan” trong quản lý này rất kinh điển. Giá cả tăng vọt, luật về tiền định danh được ban hành để bắt các chính quyền thuộc địa chấp nhận những tờ giấy vô giá trị, và những người dân thường chịu đựng tổn thất và khó khăn cá nhân rất lớn. Đến những năm cuối 1750, lạm phát ở Connecticut đã lên đến 800%, Carolinas là 900%, Massachusetts là 1000%, Rhode Island là 2300%.[2]

Tình thế này đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát đến mức đầu năm 1751, Quốc hội Anh đã vào cuộc và đây là một trong những trường hợp hiếm hoi mà sự can thiệp từ mẫu quốc thực sự có lợi cho thuộc địa, khi nó thúc ép các thuộc địa ngừng in tiền định danh. Từ đó, Ngân hàng Anh là nguồn tiền duy nhất.

Những người ủng hộ tiền định danh đã không lường trước được những điều xảy ra sau đó. Trong bối cảnh ảm đạm về việc “không đủ tiền”, một sự bùng nổ thịnh vượng thần kỳ đã diễn ra. Việc sử dụng ép buộc tiền định danh đã khiến mọi người tích lũy tiền thật của họ và thay vào đó sử dụng những tờ giấy vô giá trị. Bây giờ, khi những tờ tiền giấy đó bị tẩy chay, người dân bắt đầu sử dụng lại những đồng vàng Anh, Pháp và Hà Lan, giá cả nhanh chóng điều chỉnh theo thực thế và thương mại trở lại ổn định. Điều này vẫn được duy trì kể cả trong giai đoạn kinh tế căng thẳng trong cuộc chiến tranh bảy năm (1756-1763) và trong thời kỳ ngay trước cuộc cách mạng Mỹ. Đây là ví dụ hoàn hảo về việc làm thế nào một hệ thống kinh tế cùng kiệt có thể phục hồi nếu nhà nước không can thiệp vào quá trình phục hồi.[3]

Lạm phát thời chiến

Nhưng tất cả điều này bị ngừng lại bởi sự khởi đầu của cuộc nổi dậy thuộc địa. Sự thù địch công khai khiến không chỉ nước Anh phải quay lại cơ chế ngân hàng trung ương, mà nó cũng chính là động cơ buộc các thuộc địa quay về với máy in tiền của họ. Số liệu sau đây tự nó nói lên một cách hung hồn:

  • Vào thời gian đầu của cuộc chiến tranh năm 1775, tổng lượng tiền cung cho các thuộc địa liên hiệp vào khoảng 12 triệu đô la.
  • Vào tháng 6 cùng năm, Quốc hội lục địa phát hành 2 triệu nữa. Trước khi tiền được in, 1 triệu khác đã được phát hành.
  • Tới cuối năm thêm $3 triệu nữa.
  • 19 triệu vào năm 1776
  • 13 triệu vào năm 1777
  • 64 triệu vào năm 1778
  • 125 triệu vào năm 1779
  • Tổng cộng 227 triệu đô la trong năm năm ngoài 12 triệu ban đầu, nghĩa là con số đã tăng 2000%.
  • Ngoài nguồn tiền liên bang này, các tiểu bang hành động tương tự với lượng tiền gần tương đương.
  • Và còn nữa: Quân đội lục địa do không thể nhận đủ tiền từ quốc hội đã phát hành “các giấy chứng nhận” cho việc mua bán hàng hóa lên đến 200 triệu đô-la.
  • 650 triệu đô-la được tạo ra trong năm năm từ cơ sở 12 triệu ban đầu, làm tăng lượng cung tiền lên hơn 5000%.[4]

Mặc dù nền kinh tế bị tàn phá bởi sự tràn ngập tiền định danh, đa số nạn nhân hoàn toàn không nhận ra được nguyên nhân.  Năm 1777, tâm trạng của một bộ phận lớn dân chúng đã được thể hiện qua những ngôn từ của một người phụ nữ già yêu nước: “Thật xấu hổ khi Quốc hội để những người lính nghèo gánh chịu khi họ có quyền tạo ra bao nhiều tiền cũng được”.[5]

Kết quả ngay sau đó của việc bơm tiền này là sự xuất hiện của thịnh vượng. Rốt cuộc, mọi người có nhiều tiền hơn và điều đó được cảm nhận là tốt. Nhưng lạm phát ngay sau đó bắt đầu vận hành như một cơ chế tự hủy diệt. Năm 1775, đơn vị tiền tệ lục địa , được gọi là đồng Continental, được định giá bằng một đô la vàng. Năm 1778, nó được đổi tương đương 25 cents. Đến năm 1779, chỉ bốn năm sau ngày phát hành, nó có giá trị ít hơn một cent và bị ngừng lưu thông hoàn toàn. Cùng năm đó, George Washington đã viết: “Một toa xe tiền không đủ mua được một toa xe hàng”.[6]

Câu nói “Không đáng một Continenal” xuất phát từ thời kỳ đen tối này.

Bản chất thực sự của tác động lạm phát được cảm nhận chính xác và được mô tả sinh động nhất qua cách nói của Thomas Jefferson:

Người ta sẽ hỏi làm thế nào mà hai đống tiền Continental và tiền của các tiểu bang đã tiêu tốn 72 triệu đô của ngưởi Mỹ, khi bây giờ chúng chỉ đổi được với giá khoảng 6 triệu? Tôi xin trả lời rằng 66 triệu chênh lệch đã bị mất qua các tờ tiền giấy nắm giữ bởi những người chủ sở hữu liên tiếp của chúng. Mỗi người, khi tờ giấy bạc qua tay, đã bị mất một lượng giá trị bằng giá trị nó bị mất trong khoảng thời gian nằm trong tay anh ta. Đó là một loại thuế thực sự đối với anh ta; và theo cách này người Mỹ đã thực sự đóng góp 66 triệu đô đó trong suốt cuộc chiến tranh, bằng một loại thuế áp bức nhất vì nó bất công nhất.[7]

Kiểm soát giá và luật tiền pháp định

Hiển nhiên là mọi người cố gắng tìm cách thoát khỏi sự tàn phá đối với khoản tiết kiệm của họ, và hai cách rõ ràng nhất là (1) thường xuyên điều chỉnh giá cả tăng lên khi giá trị của đồng tiền đi xuống, hoặc (2) trao đổi hàng hóa và dịch vụ chỉ nhận đồng vàng. Đáp lại, các cơ quan lập pháp thuộc địa và Quốc hội Lục địa đã làm điều mà các chính phủ luôn luôn làm để ngăn chặn điều đó. Các cơ quan này dựa vào mức lương, kiểm soát giá cả và luật tiền pháp định với mức phạt nghiêm khắc cho việc không tuân thủ. Theo luật này, ai không chấp nhận đồng tiền vô giá trị thậm chí bị gọi là kẻ phản bội. Luật tuyên bố:

Nếu bất cứ người nào từ nay về sau mất đi đạo đức và sự tôn trọng Đất nước đến mức không chấp nhận đồng tiền quốc gia thì sẽ bị coi là kẻ thù của Đất nước.[8]

Rhode Island không chỉ đe dọa một lượng tiền phạt đáng kể cho việc không chấp thuận tiền giấy mà hơn nữa người đó sẽ mất quyền công dân của mình. Khi điều này được tuyên là bất hợp pháp bởi một ban thẩm phán, cơ quan lập pháp đã đáp trả bằng việc sa thải các thẩm phán này.[9]

Lúc đó, cũng như bây giờ, những người phải gánh chịu nhiều thiệt hại nhất từ tiền định danh chính là những người đặt nhiều niềm tin nhất vào chính phủ. Năm 1777, những người này đa số là người thuộc Đảng Whig – những người giữ tiền giấy một cách mù quáng, kết quả là đánh mất sinh kế và khoản tiết kiệm cả đời của họ. Mặt khác, những người theo Đảng Tory (bảo thủ), vốn mất niềm tin vào cả chính phủ và tiền giấy nên đã đổi tiền thành tài sản thực tế, nhất là vàng, càng nhanh càng tốt. Kết quả là họ vượt qua thời kỳ khó khăn tương đối tốt. Nhưng họ thường xuyên bị những người hành xóm kém khôn ngoan mô tả là “những kẻ bảo thủ đầu cơ”, kẻ tích trữ, thậm chí là kẻ phản bội.

Tất cả điều này còn đau đớn nguyên vẹn trong ký ức của các đại biểu tham dự hội nghị lập hiến, và khi phiên khai mạc được triệu tập tại Philadelphia năm 1787, những đám đông giận dữ trên đường phố đã đe dọa các nhà lập hiến. Cướp bóc khắp nơi. Các doanh nghiệp phá sản. Nghiện ngập và vô pháp luật có thể thấy ở mọi nơi. Trái kết của tiền định danh đã chín và các đại biểu không thích vị của nó.

Tháng 10 năm 1785, George Washington đã viết: “Bánh xe của chính phủ đã bị xích lại và….chúng ta đang tiến dần đến thung lũng của sự rối loạn và đen tối”.[10] Một năm sau, trong bức thư gửi James Madison, ông viết: “Chưa có ngày nào u ám hơn hiện tại. Chúng ta đang bên bờ vực vô chính phủ”.[11]

Tháng 2 năm 1787, Washington đã viết cho Henry Knox: “Nếu có bất kỳ ai từng nói với tôi rằng sẽ có sự rối loạn lớn như vậy, tôi đã nghĩ anh ta nên ở trong nhà thương điên.”[12]

Chỉ 3 tháng trước hội nghị, Washington đã lên tiếng nêu ra lý do cho việc bác bỏ ý tưởng về tiền định danh. Để trả lời những phàn nàn rằng không đủ vàng cho nhu cầu của thương mại, ông nói:

Sự cần thiết nổi lên từ ham muốn tiền vàng nhiều hơn thực tế. Tôi cho rằng chúng ta cần chú ý tới thực chất, là thứ chúng ta được lợi, chứ không phải hình thức. Theo thiển ý của tôi, trí tuệ của con người chưa thể đề ra một kế hoạch theo đó tín dụng tiền giấy sẽ nhận được sự ủng hộ lâu dài; kết quả là sự mất giá sẽ tỉ lệ thuận với lượng tiền phát hành và giá các mặt hàng dùng tiền giấy để trao đổi sẽ tăng theo tỉ lệ lớn hơn so với giá trị đi xuống của đồng tiền. Trong đó, liệu người nông dân, người trồng cây, nghệ nhân thủ công có được lợi?

Một điều xấu không kém là cánh cửa mở ngay cho sự đầu cơ, mà theo đó những người thật thà nhất và có lẽ là giá trị nhất trong cộng đồng sẽ trở thành con mồi của những kẻ đầu cơ xảo quyệt và am hiểu hơn.[13]

Hội nghị lập hiến

Đây là cái nhìn phổ biến của đại đa số đại biểu dự Hội nghị. Họ cương quyết tạo ra một hiến pháp ngăn cấm bất kỳ bang nào, đặc biệt là bản thân chính phủ liên bang, được phép phát hành tiền định danh. Và họ nói như vậy bằng các ngôn ngữ không thể nhầm lẫn.

Oliver Ellworth từ Connecticut, người sau này trở thành chánh án thứ ba của tòa án tối cao, nói rằng:

Đây là thời điểm thích hợp để cấm cửa tiền giấy. Những rắc rối từ nhiều trải nghiệm khác nhau hiện còn nguyên vẹn trong tâm trí cộng đồng và nó đang kích thích sự thù ghét của những thành phần khả kính tại Mỹ (đối với tiền giấy).[14]

George Mason từ Virginia đã nói với các đại biểu rằng ông “căm ghét tiền giấy đến chết”. Trước đó ông đã viết cho George Washington: “Họ có thể thông qua một đạo luật để phát hành tiền giấy, nhưng đến 20 đạo luật cũng không đủ khiến người dân chấp nhận nó. Tiền giấy dựa trên sự gian lận và bất lương.”

James Wilson từ Pennsylvania nói: “Việc loại bỏ khả năng phát hành tiền giấy sẽ có tác động tốt đẹp nhất lên uy tín của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”.

John Langdon từ New Hampshired đã cảnh báo rằng ông thà loại bỏ toàn bộ kế hoạch thành lập liên bang hơn là cho phép chính phủ mới phát hành tiền giấy….

Nếu cần thêm bằng chứng về việc những người cha lập quốc có ý định ngăn cấm chính quyền liên bang phát hành các “tờ giấy bạc tín dụng” thì hãy xem xét điều sau đây. Bản dự thảo đầu tiên của Hiến pháp được sao lại phần lớn từ bản Các Điều khoản về Hợp bang (Articles of Confederation) ban đầu. Do đó, khi nó được các đại biểu cân nhắc, nó vẫn chứa những quy định cũ vốn từng gây nhiều rối loạn. Trong đó nói: “Cơ quan lập pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ có quyền vay tiền và phát hành hóa đơn tín dụng”. Nhưng sau một cuộc thảo luận sôi nổi về vấn đề này, điều khoản vi phạm này đã được bỏ phiếu loại khỏi hiến pháp với số phiếu chênh lệch áp đảo.[15] Lên tiếng cho ý kiến của đại đa số đại biểu, Alexander Hamilton đã nói: “Việc phát hành một tờ giấy không có giá trị bảo đảm làm dấu hiệu của giá trị không nên tiếp tục trở thành một phần chính thức trong Hiến pháp, cũng như sau này nó không bao giờ được sử dụng lại; bởi về bản chất nó dễ bị lạm dụng và trở thành động lực lừa dối và gian lận”.[16]

Một tờ báo của Hội nghị ngày 16 tháng 8 có chú thích sau:

Nó đã được bỏ đi và cụm từ “và phát hành hóa đơn tín dụng” đã bị gạch bỏ, và hành động được bỏ phiếu thuận thông qua [Số phiếu bầu chênh lệch rõ ràng với tỉ lệ hơn 4/1].[17]

Tu chính án Hiến pháp thứ mười tuyên bố: “Các quyền không được ủy nhiệm cho Liên bang và cũng không bị Hiến pháp cấm trao cho các tiểu bang, thì được giành cho các tiểu bang, hoặc cho người dân” Quyền phát hành giấy bạc tín dụng hoàn toàn không được ủy nhiệm cho Liên bang, và đặc biệt bị cấm đối với các tiểu bang. Do đó, nếu bất cứ quyền phát hành tiền định danh hợp pháp nào tồn tại, thì nó thuộc về người dân. Nói cách khác, các cá nhân và tổ chức tư nhân, như ngân hàng, có quyền phát hành giấy ghi nợ IOU và hy vọng công chúng sẽ sử dụng nó như tiền, nhưng chính phủ, ở bất kỳ cấp độ nào, rõ ràng bị Hiến pháp cấm làm điều đó.

 

 

Comments

Comments Closed

Comments are closed. You will not be able to post a comment in this post.