Buổi chia sẻ về chiến lược du học Mỹ từ chuyên gia đến từ Singapore

Chuyên gia Kevin Sim ((counselor của trường Trung Học no. 1 của Singapore, Raffles Institution) sẽ có một buổi trò chuyện về các chiến lược để nhập học tại các trường cao đẳng, đại học hàng đầu Hoa Kỳ tại 126 Nguyễn Thị Minh Khai, Tp HCM vào ngày 5/4 (Chủ nhật) tới.

Với khả năng chia sẻ hài hước cùng 20 năm kinh nghiệm, ông sẽ giúp các quý phụ huynh cũng như các bạn học sinh giải đáp những câu hỏi khó nhất về du học Mỹ. Ông đã giúp nhiều học giả Việt Nam tại Singapore đạt được những học bổn toàn phần tại các trường nổi tiếng như: Harvard, Princeton, Stanford, Williams.

Ông Sim rất muốn gặp gỡ những sinh viên tài năng cũng như quý phụ huynh. Hãy đến và đặt những câu hỏi liên quan đến việc hiện thực hóa giấc mơ du học Mỹ của bạn.

Sự kiện này được tổ chức bởi chương trình “Thắp sáng khát vọng Việt”, một chương trình cố vấn cho sinh viên mong muốn du học tại Mỹ.

Vui lòng đăng ký tham gia sự kiện tại đây

Tản mạn về mảnh bằng Ph.D

Những năm gần đây có khá nhiều sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ và nhiều nước khác, bằng nhiều con đường khác nhau. Người có học bổng, chức trợ giảng (teaching assistant – TA), hoặc trợ nghiên cứu (research assistant – RA), người thì du học tự túc. Tôi không nhớ chính xác là đã đọc ở đâu đó rằng có hơn nghìn du học sinh mỗi năm sang Mỹ. Nhiều người trong số họ theo học tiến sĩ (Ph.D).

Thông tin về làm thế nào để xin học bổng, TA, RA, xin thư giới thiệu, cách viết dự định cá nhân (personal statement), vân vân đầy rẫy trên các mailing lists trên Internet.

Thế nhưng, một số câu hỏi quan trọng mà tôi ít thấy sinh viên hỏi là: “tại sao lại học Ph.D?”, “có đáng bỏ thời gian học Ph.D hay không?”, “làm thế nào để đánh giá mảnh bằng Ph.D?”, “tôi có đủ khả năng để học Ph.D hay không?”, “học Ph.D xong rồi làm gì?”, vân vân.

Có lẽ ta cần một luận án … Ph.D để trả lời phần nào thỏa đáng các câu hỏi trên. Cũng có lẽ có ai đó trong các ngành giáo dục hay tâm lý học đã làm rồi. Về mặt kinh tế thì một người bạn cho tôi biết đã có cả mớ công trình nghiên cứu về “cái giá của giáo dục” (returns to education).

Trong bài viết này, tôi thử lạm bàn lan man xung quanh các câu hỏi trên. Bài viết hoàn toàn không mang tính hàn lâm (academic), nghĩa là sẽ không có các con số thống kê, bảng phân tích, để ủng hộ một (vài) luận điểm nào đó. Sẽ không có tham khảo đến các nguồn thông tin tín cẩn và các thứ tương tự. Tác giả chỉ dựa trên các kinh nghiệm, quan sát, và suy nghĩ cá nhân, sau gần chục năm học và “hành nghề” Ph.D ở Mỹ.

Tôi chắc là một cá nhân khác trong hoàn cảnh của tôi sẽ có không ít ý kiến bất đồng. Tôi cũng không có tham vọng nói hết được những cóp nhặt kinh nghiệm của mình. Ngoài ra, tôi sẽ nhấn mạnh nhiều hơn mặt trái của việc học Ph.D.

Ðiều tôi hy vọng là qua bài viết này, tôi có thể giúp cho các sinh viên (cùng gia đình) sẽ và đang học Ph.D ít nhiều chuẩn bị tinh thần cho đoạn đường chông gai nhưng thú vị này; hy vọng chỉ ra được một góc nhìn khác về Ph.D so với quan niệm chung của xã hội.

1.     Ph.D là gì ?

Trước hết ta hãy thử bàn về mảnh bằng Ph.D từ cái nhìn hàn lâm. Ph.D là viết tắt của chữ Doctor of Philosophy. Học bậc Ph.D, cao nhất trong các học bậc, đầu tiên xuất hiện ở Ðức, sau đó được Mỹ và nhiều nước phương tây khác sử dụng. Bằng Ph.D đầu tiên của Mỹ xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 19. (Ơ Y’ cho đến những năm 1980 mới có bằng Ph.D.)

Từ Ph.D có gốc latin là Philosophiae Doctor. Chữ doctor nghĩa là “thầy” (teacher), và “chuyên gia”, “chức trách” (authority). Chữ philosophy (triết học) có nguồn gốc từ thời trung cổ (medieval) ở Châu Ảu, khi mà các trường đại học có bốn chuyên khoa (faculty) chính: thần học (theology), luật học (law), y học (medicine), và triết học (philosophy). Philosophy ở đây dùng để chỉ các ngành học không dẫn đến một nghề nghiệp thực tế nhất định của thời đó như người của nhà thờ, luật sư, và bác sĩ.

Ðến nay thì không phải Ph.D nào cũng liên quan đến philosophy, cho dù lấy theo nghĩa bóng nhất của từ này. Tuy nhiên chữ doctor vẫn mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Ở phương Tây, trong nghi thức giao tiếp người ta gọi một người có bằng Ph.D là doctor. Hầu hết các trường đại học đều đòi hỏi toàn bộ giảng viên và các giáo sư có bằng Ph.D. Ða số các nhà nghiên cứu ở các phòng nghiên cứu chuyên nghiệp đều có bằng Ph.D.

Tuy vậy, điều ngược lại không đúng: không phải tất cả các Ph.D đều có thể làm giảng viên, giáo sư, hay nghiên cứu viên. Có những Ph.D thậm chí chẳng bằng một kỹ sư thông thường.Cũng có khá nhiều Ph.D, sau khi “hành nghề” một thời gian thì lên chức, hoặc chuyển sang làm salesman hoặc làm quản lý, vân vân. Ta sẽ quay lại đề tài này sau.

Cái nhìn hiện đại của Ph.D như sau. Ðể hoàn tất Ph.D, sinh viên phải đạt được hai mục tiêu chính: (a) hoàn toàn tinh thông một ngành (hoặc phân ngành) nào đó, và (b) góp phần mở rộng khối kiến thức của nhân loại về ngành đó.

Mục tiêu (b) là cái lõi để phân biệt bậc Ph.D với các bậc học khác. Ph.D không phải là cái bằng “nhai lại”: đọc nhiều, thi lấy điểm cao là xong. Một Ph.D đúng nghĩa phải có một vài công trình và ý tưởng nghiên cứu của riêng mình (originality).

Về mặt lý thuyết thì là thế. Thực tế ra sao?

2.     “Nghề” Ph.D: đoạn trường cũng lắm chông gai

Ở Mỹ, là sinh viên sau đại học (graduate student) cũng là một nghề. (Tôi không dùng từ “nghiên cứu sinh” vì không phải graduate student nào cũng làm nghiên cứu thực thụ, nhất là các sinh viên đang học thạc sĩ.) Các graduate students thường làm TA hoặc RA, với mức lương khoảng 900USD đến 1200USD một tháng (sau thuế), tiền học được bao. Sống tằn tiện thì mức lương này vừa đủ một người sống. Thường thì các gradudate students sống chui rúc trong một căn hộ nhỏ bé nào đó (dĩ nhiên là có ngoại lệ, đa phần do may mắn), hầu hết thời gian dùng ở các phòng lab (phòng thí nghiệm hoặc phòng máy tính) và thư viện. Tối về đến nhà là lăn ra ngủ để rồi sáng mài mèo con lại hớn hở bút chì bánh mì lên đường.

Kể chuyện cuộc sống gradudate students thì có lẽ cần một tiểu thuyết vài trăm trang. Ðiều tôi muốn đề cập là: trong hoàn cảnh làm việc căng thẳng như vậy, một sinh viên thông thường thỉnh thoảng sẽ phải tự đặt câu hỏi “có đáng không?” Nhất là khi công việc học tập và nghiên cứu không trôi chảy. Mà kể cả khi nó hoàn toàn trôi chảy, tính về các mặt kinh tế, tinh thần, thời gian, và … philosophy, câu hỏi trên vẫn hoàn toàn hợp lệ.

Về mặt kinh tế thì lương trung bình của Ph.D ra trường có nhỉnh hơn thạc sĩ (M.S) và bậc đại học (B.S) một chút, nhưng sự khác biệt này không khỏa lấp được lỗ lã cho thu nhập đã mất trong khoảng thời gian làm Ph.D: trung bình từ 4 đến 5 năm. Tính tổng số USD kiếm được cho mỗi giờ học tập thì Ph.D là hạng bét (tính tương đối theo từng ngành học).

Về mặt tinh thần thì làm việc căng thẳng và cật lực trong một thời gian dài trong một môi trường cạnh tranh tương đối công bằng nhưng khắc nghiệt (!) hoàn toàn có thể ảnh hưởng xấu đến tâm lý cá nhân. Ðiều này đặc biệt đúng với sinh viên du học: thiếu thốn các nhu cầu văn hóa và tinh thần cơ bản của quê hương, cơ hội tìm bạn tình hoặc bạn đời bị giảm thiểu (với phái nam), vân vân. Không phải hiếm mà người ta hay thấy bọn Ph.D hơi … gàn gàn. Công bằng mà nói, gradudate students do thiếu thốn văn hóa hay tìm cách nghiên cứu học hỏi thêm cái này cái khác ngoài ngành của mình (nhạc, thơ, lịch sử, chính trị, triết học, …), cho nên bọn gàn cũng có thể rất đa tài. Ở Mỹ thì địa vị xã hội của một Ph.D cũng chẳng hơn gì các nghành nghề khác là mấy.

Yếu tố tinh thần này rất quan trọng. Có không ít các gradudate students cần đến 8, 9 năm mới làm xong Ph.D. Nhiều năm trời “ở mãi kinh kỳ với bút nghiên”, ngoảnh đi ngoảnh lại chưa làm được gì ra hồn mà đã ngoài 30. Khi thị trường việc cho Ph.D bị thuyên giảm thì người ta rơi vào cái vực muôn thuở: “về hay ở”, “về thì đâm đầu vào đâu?”. Nhiều năm làm việc với mức lương vừa đủ sống, các Ph.D mới ra trường hoàn toàn không dành giụm được gì, chưa nói đến việc nợ thẻ tín dụng kha khá. Dù các nhà chức trách đã có kế hoạch đãi ngộ nhân tài, chế độ này vẫn còn xa rời thực tế. Ðầu tư tinh thần và thời gian của một Ph.D quá nhiều để có thể hài lòng với một công việc một vài triệu đồng một tháng. Họ sẽ phải tự hỏi: nếu xưa mình không đi học thì bây giờ cũng có thể đã phây phây lương vài triệu một tháng? Vậy cả chục năm trời bỏ ra công cốc à? Tôi đã nhập nhằng yếu tố tinh thần và kinh tế, nhưng đôi khi ta không tách rời chúng được.

Một khía cạnh khác của yếu tố tinh thần là sức ép của gia đình và người thân. “Người ta 4 năm đã xong Ph.D, vợ con nhà cửa đàng hoàng, bọn không Ph.D thì cũng giám đốc với trưởng phòng, xây nhà to cửa rộng cho bố cho mẹ; còn mày bây giờ ngoài 30 mà vẫn cứ lông bông tay trắng. Ông chẳng ra ông, thằng chẳng ra thằng”.

Về mặt triết học mà nói thì có đáng học Ph.D không? Câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân sinh viên: đi học Ph.D để làm gì? Ta sẽ quay lại điểm này trong phần tới.

Bây giờ hãy giả dụ cô/anh Ph.D yêu dấu của ta tìm được một công việc ổn định ở nước ngoài, quyết định ở lại tích lũy tư bản giúp gia đình và tích lũy kinh nghiệm để  sau này, cách này hay cách khác, (về) giúp quê hương. Có hai nhánh công việc chính cho một Ph.D mới ra trường: (a) làm việc ở một phòng nghiên cứu chuyên nghiệp nào đó, và (b) một chân giảng viên hoặc giáo sư ở một trường đại học.

(Hai công việc này có thể chỉ có được sau một vài năm làm postdoc nữa . Ta hãy cứ gộp luôn postdoc vào tổng thời gian cho tiện, mặc dù lương postdoc khá hơn lương gradudate students.)

Lương bổng và giá trị của vị trí mới phụ thuộc hoàn toàn vào việc người ta đánh giá Ph.D như thế nào. Tôi sẽ bàn về việc này trước. Tôi cũng có ý nói lan man vềđề tài “định trị Ph.D” sau khi đọc một bản tin ở VNExpress thấy trong nước người ta có nói về đánh giá Ph.D loại “giỏi, khá, trung bình” (sau một buổi họp nào đó). Phạm vi “định trị Ph.D” của tôi chủ yếu áp dụng cho các nghành kỹ thuật và khoa học tự nhiên như điện, điện tử, khoa học máy tính, toán, lý, …

Khi xưa thì giá trị của một Ph.D mới ra trường tùy thuộc vào giá trị công trình nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. Sau khi ra trường thì doctor mới sẽ phát triển công trình này thành một vài bài báo đăng ở các tạp chí (journals) và hội nghị (conference) chuyên ngành. Các bài báo này đều được phê bình (reviewed) bởi các chuyên gia đã trưởng thành trong cùng ngành.Các bài báo không đóng góp gì nhiều hoặc vớ vẩn sẽ không được nhận đăng.

Hiện nay thì áp lực đăng báo (publication) của graduate students khi còn đang học lớn hơn gấp bội. Một công việc kha khá ở một trường đại học hay phòng nghiên cứu danh tiếng thường nhận doctor mới với hơn chục bài báo. Trung bình một giáo sư trẻ mới ra trường trong ngành khoa học máy tính có đến khoảng 3-5 journal papers và cả chục conference papers.

Dĩ nhiên số lượng là thứ yếu, chất lượng mới quan trọng. Một công trình chất lượng cao sẽ được nhiều người biết đến rất sớm, và có thể nói không ngoa là nó quan trọng hơn cả trăm bài báo dạng … “bổ củi”. (Bổ củi là tính từ dân gian trong giới khoa học Việt Nam để chỉ các bài báo thường thường bậc trung, ai làm mãi rồi cũng xong.)

Ðối với Ph.D ở Mỹ thì điểm học trung bình khi học Ph.D hầu như không mang ý nghĩa gì cả, ngoại trừ điểm tối thiểu để có thể được tiếp tục học, khoảng chừng 3.3 đến 3.5 trên 4.0, tùy theo trường. Số lượng và chất lượng các bài báo và các công trình nghiên cứu khác (một ứng dụng máy tính chẳng hạn) mới là tiêu chí đánh giá Ph.D. Không có chuyện người ta xếp loại Ph.D trung bình, yếu, giỏi, khá, vân vân. Lý do chính là: làm chuyện này hầu như là vô vọng. Ai có đủ thẩm quyền và thời gian để đánh giá. Kể cả giáo sư hướng dẫn chưa chắc đã biết hết về phân ngành mà sinh viên của mình làm, huống gì người ngoài. Có rất nhiều công trình đăng báo vài năm hoặc vài chục năm sau người ta mới thấy hết giá trị của nó. Cũng có cả tỉ công trình lúc mới đăng thì ai cũng xúm vào khen, nhưng vài năm sau thì lặng tăm.

Dĩ nhiên có khá nhiều các công trình mà người trong ngành đọc biết ngay là “dỏm” hay “xịn”. Nhưng vấn đề chính là không ai có thời gian xếp loại và định trị Ph.D. Ở Mỹ, kinh tế thị trường tương đối công bằng. Ph.D giỏi sẽ được đồng nghiệp biết đến, tìm được việc ở các trường đại học và phòng nghiên cứu danh tiếng, vân vân. Cũng có thể có Ph.D giỏi không tìm được việc, hoặc Ph.D dỏm “lọt lưới” cung cầu. Các trường hợp này đều là ngoại lệ hiếm hoi.

Lại nói thêm về đăng báo. Ta hãy nhớ mục tiêu (b) của Ph.D: đóng góp vào khối kiến thức của nhân loại. Ph.D mà không có bài báo nào thì có 10 Ph.D cũng hoàn vô nghĩa, theo nghĩa tinh khiết nhất của chữ Ph.D. Chí ít, Ph.D phải chia xẻ các thu lượm và nghiên cứu của mình với đồng nghiệp ở một vài hội nghị và journal danh tiếng nào đó.

Các nhà xuất bản khoa học ở phương Tây cũng làm kinh tế. Có rất nhiều các hội nghị và journals hạng bét, bài vớ va vớ vẩn cũng đăng vào được. Chỉ có người trong ngành mới biết được hội nghị và journal nào có uy tín. Mà kể cả ở các nơi có uy tín này ta vẫn có thể tìm thấy các bài báo tồi.

Tóm lại, công việc “định trị Ph.D” hoàn toàn không đơn giản chút nào. Áp lực phải đăng báo đè rất nặng lên vai các gradudate students. Ngược lại, cảm giác công trình của mình được đồng nghiệp công nhận và đánh giá cao cũng rất tuyệt vời!

Trong 5, 6 năm đầu sau khi ra trường, bất kể công việc là giáo sư hay nghiên cứu viên, áp lực viết báo và xin tiền làm nghiên cứu còn nặng hơn khi còn là sinh viên nữa.

(Ở đây ta loại trừ các trường hợp người ta chỉ muốn có Ph.D để theo đuổi nghề giảng viên (lecturer) nào đó. Có lẽ phải khẳng định rằng mục tiêu này cũng cao quí như các mục tiêu “cạnh tranh khắc nghiệt” khác.)

Nếu Ph.D trẻ không khẳng định được mình trong 5, 6 năm đầu tiên này thì thường là sẽ không giữ được công việc của mình. Có lẽ bạn đọc cũng có thể tưởng tượng được áp lực này nặng như thế nào. Các bài báo đều là các công trình sáng tạo mà trước đó chưa có ai làm, chưa có ai nghĩ ra (chí ít là về nguyên tắc). Làm thế nào mà ai đó có thể đảm bảo một năng suất sáng tạo nhất định trong một thời gian dài như vậy? Có đáng bỏ ngần ấy thời gian và công sức cho một mục tiêu mà phần thưởng về cả kinh tế, tinh thần, triết học, sức khỏe đều khá mập mờ?

3.     Tại sao lại học Ph.D? Có nên học Ph.D không?

Ta thử ghi ra đây một phần nhỏ các lý do:

  1. a) Bạn bè đều đi nước ngoài học sau đại học.
    b) Ðược xã hội nể trọng, oách ra phết.
    c) Ðể học được kiến thức tiên tiến.
    d) Không rõ lắm. Từ bé học đã giỏi, thì cứ tiếp tục học.
    e) Có lẽ là con đường duy nhất để cải thiện đời sống gia đình và cá nhân.
    f) Ðể mở tầm mắt ra những chân trời mới.
    g) Ðể sau này về làm giáo sư đại học.
    h) Ðể được làm nghiên cứu khoa học.
    i) Ðể thay đổi thế giới quan.
    ……
    z) Tất cả các lý do trên.Và z phẩy) Không làm Ph.D thì làm gì?

    Ðối với đa số gradudate students và graduate-students-tương-lai thì câu trả lời là một tập con khá lớn của vài tá câu trả lời mà ai cũng có thể nghĩ ra.

    Ta hãy thử phân tích vài chọn lựa quan trọng nhất.

    Làm Ph.D để mở mang kiến thức. Ðây là một mục tiêu rất quan trọng và mang tính cá nhân. Mark Twain từng nói: “đừng để trường lớp cản trở con đường giáo dục của bạn” (Don’t let school get in the way of your education). Trường lớp không phải là con đường duy nhất đến Rome của tri thức. Tuy vậy, trong hoàn cảnh lạc hậu của một nước thế giới thứ ba như ViệtNam ta, thì ra nước ngoài học thêm là con đường hữu lý.

    Câu hỏi chính mà ta nên đặt ra là chỉ nên học M.S thôi, hay là học cả Ph.D. Chỉ về kiến thức mà nói, thì hai năm M.S cũng đủ cho một sinh viên thông minh sau đó tự học. Làm Ph.D cũng đa phần là tự học thôi.

    Làm Ph.D để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được xã hội nể trọng hơn; vì bạn bè ai cũng học Ph.D; có bằng Ph.D rất oách; từ bé đã học giỏi thì cứ tiếp tục học; vân vân.

    Một Ph.D thực thụ sẽ cho bạn biết rằng các lý do loại này đều là sai lầm to lớn! Tôi hoàn toàn không có ý định “giảng đạo” về chọn lựa cá nhân của ai. Tôi cũng không nói động cơ “hám bằng cấp” hay “oai oách” là sai trái. Ðó là chọn lựa của từng cá nhân. Ðiểm tôi muốn nói là các động cơ loại này sẽ không thể giúp sinh viên hoàn thành tốt việc học Ph.D. Việc hay so sánh mình với bạn bè và người khác sẽ tạo nên áp lực tinh thần không thể chịu nổi trong khi học. Yêu thích “tiếng tăm” cũng vậy. “Học giỏi”, theo nghĩa ở ta, là thi thố điểm cao và “nhai lại” những gì được dạy, cho nên học giỏi chưa chắc đã liên quan mấy đến khả năng sáng tạo – khả năng sống còn của Ph.D.

    Từ khóa dẫn đến thành công của sinh viên Ph.D phải là “đam mê”. Ðam mê học hỏi và sáng tạo trong một phân ngành nhất định! Trừ những người thật sự xuất chúng thì đa số chúng ta sẽ không thể làm thành công Ph.D ở một ngành nào đó chỉ vì “xã hội cần nó”, hay “nó kiếm ra tiền”.

    Nếu chỉ đam mê học hỏi không thôi thì cũng không đáng bỏ ra ngần ấy thời gian để làm Ph.D. Ta hoàn toàn có thể làm M.S rồi tự đọc, tự học thêm.

    Tất cả các thành quả như chức vụ, danh tiếng, oai oách, vân vân đều phải, và nên, là sản phẩm phụ của quá trình theo đuổi nỗi đam mê sáng tạo và mở mang tri thức này.

    Ðấy là nói về “động lực” học Ph.D. Thế còn “khả năng” thì sao? Quá trình học Ph.D lên xuống như hình sin. Sẽ có bao nhiêu trở ngại kinh tế, tinh thần phải vượt qua. Một trong những trở ngại lớn nhất là: sau một vài thất bại trong nghiên cứu, các sinh viên sẽ phải tự hỏi “ta có đủ khả năng làm Ph.D không nhỉ?”

    Ðam mê và khả năng tạo thành cái vòng luẩn quẩn. Ta có xu hướng đam mê cái mà ta giỏi, và ta thường xuất sắc ở công việc mà ta đam mê. Nhảy vào được cái vòng này là hành trình cá nhân. Có lẽ không ai trả lời thay ta được.

4.     Phụ huynh: xin đừng gây áp lực tâm lý

Không ít các bậc phụ huynh mà tôi được dịp quan sát đặt rất nhiều kỳ vọng vào con em mình về con đường hàn lâm. Họ đầu tư tiền bạc và thời gian, nuôi niềm hy vọng ngày nào đó sẽ có một “trạng nguyên” vinh quy bái tổ, nở mày nở mặt với hàng xóm láng giềng và bè bạn. Chuyện này có ở tất cả các học bậc, không riêng gì Ph.D. Tuy vậy, áp lực ở Ph.D lớn hơn khá nhiều vì graduate students sẽ phải cạnh tranh với các sinh viên xuất sắc trên toàn thế giới.

Tôn trọng tri thức và học tập là điều tốt, và bằng cấp là một thước đo tương đối chính xác của tri thức. Nhưng nó không phải là thước đo duy nhất. Ðó là chưa nói đến các câu hỏi như: đạt được tri thức loại gì thì mới được coi là “thành nhân”? Khó mà có thể đo lường xem một Ph.D và một anh đạp xích lô ai có “đóng góp” nhiều hơn cho xã hội, hay ai “hạnh phúc” hơn ai, theo bất kỳ nghĩa nào của các từ này. Có một ranh giới rất bé giữa “tôn trọng tri thức” và “hám bằng cấp”.

Hy vọng tôi đã hay sẽ thuyết phục được bạn rằng Ph.D cũng thượng vàng hạ cám. Một Ph.D về khoa học máy tính chẳng hạn, nếu làm nghiên cứu về một phân ngành chẳng ai quan tâm, đăng vài bài báo ở các chỗ linh tinh, thì sẽ từ từ xa rời dòng chảy chính của tri thức nhân loại. Có không ít Ph.D về khoa học máy tính lập trình không ra hồn, thua hẳn một kỹ sư thông thường, chính là vì lý do này.

Tôi lại triết lý 3-xu rồi. Ðiều tôi muốn nói là niềm “hy vọng” của các bậc phụ huynh tạo áp lực cực lớn ảnh hưởng đến kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên. Trong khi chọn lựa nghề nghiệp tương lai đáng lẽ nên là chọn lựa cá nhân!

5.     Ðạt được Ph.D chỉ là bước đầu

Còn khá nhiều điểm khác tôi muốn nói, nhưng bài đã dài. Lấy Ph.D chỉ là bước đầu rất nhỏ của một nghề nghiệp, cũng như bao nhiều nghề nghiệp khác. Có Ph.D có thể đồng nghĩa với những phần thưởng đáng quí về kinh tế và tinh thần về cả mặt xã hội lẫn cá nhân, nhưng bù lại cái giá phải trả về mọi mặt cũng cao không kém. “Nghề” Ph.D chẳng cao quí hơn nhiều nghề khác, mà thời gian và công sức bỏ ra lại nhiều hơn khá nhiều.

Cuộc sống và các chọn lựa cá nhân lẽ dĩ nhiên là phức tạp. Tôi hy vọng qua bài viết này các bạn trẻ có thể có một cái nhìn và suy nghĩ cẩn trọng hơn trước khi theo đuổi “con đường đau khổ” này. Ta không thể theo nó chỉ vì các ảo tưởng danh tiếng, bằng cấp và tiền bạc. Ðầu tư như vậy không có lãi!

Một trong những điều kiện cần cho nghề này là khả năng theo đuổi nỗi đam mê nghiên cứu và sáng tạo trong một thời gian dài. Bằng Ph.D chỉ là một bước cỏn con trong hành trình chông gai nhưng thú vị này. Nó hoàn toàn không phải là con đường duy nhất.

Thứ bảy, 29 tháng 11, 2003.
NQH

Xem bài gốc tại đây

Kỳ nhân trẻ đất Bắc – Người đẹp say tuồng cổ

Xinh đẹp, giỏi giang, lẽ ra Nguyễn Tô Lan có thể theo đuổi những ngành “thời thượng”, sống cuộc sống vương giả. Thế nhưng cô lại chọn hướng đi “không giống ai”: Nghiên cứu Hán Nôm và tuồng cổ.

Dường như niềm đam mê Hán Nôm và tuồng cổ đã trở thành một duyên nghiệp, một định mệnh với chị. Và rồi cũng nhờ đó chị thẳng bước đến ĐH danh tiếng Harvard với tư cách một học giả khách mời của Viện Harvard-Yenching.

Một nữ nhi mang tinh thần “nam nhi chí”

Trong bối cảnh rất ít sinh viên chọn theo ngành Hán Nôm, quyết định của Nguyễn Tô Lan được coi là một lựa chọn dũng cảm. Nói như GS Trần Ngọc Vương, Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội, chị là một nữ nhi mà lại có tinh thần “nam nhi chí”, dám “nộp mình cho tuồng”, theo đuổi tuồng trên một hành trình đầy chông gai.

Niềm yêu thích chữ Hán đến với chị một cách trong trẻo, hồn nhiên từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Chị kể lại, ngày ấy thầy giáo dạy toán năm lớp 10 chuyên văn của chị bỗng một ngày viết lên bảng tên các học sinh bằng chữ Hán. Đó là lần đầu tiên trong đời chị có khái niệm thế nào là chữ Hán, từ đó chị quan tâm đến chữ Hán nhiều hơn.

Cũng vì niềm yêu mến cổ học mà cô bé Lan quyết định vào đội tuyển thi học sinh giỏi quốc gia môn sử thay vì chọn môn văn. Và Lan đã đoạt giải nhất toàn quốc môn lịch sử năm 1999 với bài luận xuất sắc về chiến tranh nhân dân thời Trần. Được tuyển thẳng vào ĐH, Nguyễn Tô Lan quyết định chọn khoa văn để có cơ hội học nhiều về Hán Nôm, từ chỗ am hiểu Hán Nôm sẽ là điểm tựa vững chắc để nghiên cứu một loạt các ngành học khác như văn học, sử học hay triết học…

Năm 2003, chị chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp là nghiên cứu về thư tịch Hán Nôm ở TP Huế, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS-TS Nguyễn Văn Thịnh. Bảo vệ xong khóa luận tốt nghiệp, chị được chuyển tiếp để học luôn chương trình cao học ngành Hán Nôm tại Trường KHXH&NV, phát triển tiếp hướng nghiên cứu thư tịch Hán Nôm. Cũng trong thời kỳ làm luận văn cao học, Nguyễn Tô Lan đặc biệt quan tâm tới những ghi chép về kho lưu trữ tuồng Huế dưới triều Nguyễn và những văn bản còn lưu giữ được ở TP này. Năm 2008, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS-TS Trần Ngọc Vương, Nguyễn Tô Lan chính thức đăng ký đề tài luận án tiến sĩ với tên gọi “Nghiên cứu văn bản Quần phương tập khánh trong bối cảnh dòng văn quan phương thời Nguyễn” với tư cách là một chuyển tiếp sinh.

Vừa sinh nở, vừa nghiên cứu

Có thể nói ba năm làm luận án tiến sĩ là khoảng thời gian gian nan nhất trong đời chị. Chị vừa mang thai con gái đầu lòng, sinh nở, chăm sóc con rồi lại phải đi nghiên cứu ở Trung Quốc chín tháng để lấy thêm tư liệu, đối chiếu so sánh giữa tuồng Việt và kinh kịch của Trung Quốc. Dù được sự hỗ trợ về tài chính của Quỹ học bổng châu Á (ASF) mà chị là Visitting Fellow nhưng trong thời gian đó, vì hoàn cảnh gia đình mà cứ ba tuần ở Trung Quốc thì hai tuần lại ở Việt Nam.

Khi mẹ về con bắt đầu ốm, con khỏe thì mẹ lại đi, cứ thế ròng rã bao ngày tháng. Có những lúc tưởng chừng mệt mỏi không vượt qua được, tụt huyết áp suýt ngất ở viện, may được cấp cứu kịp thời, truyền thuốc, truyền nước suốt một ngày, sớm hôm sau lại lên đường ra sân bay sang Quảng Châu. Chị nhớ lại, có những thời kỳ bên Trung Quốc phải hoạt động liên tục từ 4 giờ sáng đến 11 giờ đêm và kéo dài chu kỳ đó hằng tuần. Vừa thuyết trình tại ĐH Trung Sơn xong đã phải đi điền dã ở vùng Nam Sa, rồi lại trở về ngôi nhà thường trú ở TP Nam Ninh. Sau trận đó, chị bị ốm 10 ngày không làm được gì. Có những thời điểm chưa quen với cái lạnh bên Trung Quốc, chị bị hạ đường huyết phải đi bệnh viện cấp cứu.

Rồi những ngày cặm cụi âm thầm ngồi làm việc một mình tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm vào những ngày thứ Bảy, Chủ nhật, quên hết cả thời gian, lúc ngẩng đầu lên mới biết đã 2 giờ chiều và nhớ ra rằng mình quên cả ăn trưa.

Đến ngày bảo vệ luận án chính thức, theo các thành viên trong hội đồng chấm luận án thì chưa bao giờ có một buổi bảo vệ của một nghiên cứu sinh ngành Hán Nôm có không khí hừng hực từ phút đầu đến phút cuối như vậy. Thường các buổi bảo vệ chỉ diễn ra trong khoảng ba tiếng và luôn kết thúc trước 12 giờ trưa. Nhưng với trường hợp của nghiên cứu sinh Nguyễn Tô Lan thì khi kim đồng hồ đã chỉ sang 13 giờ, buổi bảo vệ vẫn chưa thể dừng lại. GS Nguyễn Huệ Chi trình bày một bản phản biện dài tới chín trang, một mặt vừa khẳng định giá trị luận án và công sức của nghiên cứu sinh, bên cạnh đó là những trao đổi khoa học thẳng thắn và vô cùng hấp dẫn khiến cử tọa hào hứng lắng nghe từ đầu tới cuối.

Đường đến Harvard

Không biết được Nguyễn Tô Lan đã bao nhiêu lần rơi nước mắt trên hành trình khoa học đó, duy có hai lần chị để cho người ngoài nhìn thấy những giọt nước mắt rơi trên luận án tiến sĩ của mình. Lần đầu tiên là vào giây phút kết thúc buổi bảo vệ, nghiên cứu sinh được nói lời sau hết cảm ơn mọi người. Tất cả cảm xúc tích tụ của nhiều tháng năm ùa về, cùng với mất mát đột ngột ngay trước ngày bảo vệ (người anh họ thân thiết của chị đã qua đời ngay đêm trước đó khi tuổi đời còn rất trẻ), nỗi ân hận vì chị cho rằng mình đã lấy đi nhiều thời gian của người thân, tập trung vào luận án mà không chăm lo được nhiều cho gia đình như mình mong muốn đã làm một trái tim cứng rắn, một “nam nhi chí” trong chị không cầm được nước mắt. Và chính chị trong lễ nhận bằng tiến sĩ chính thức, đại diện cho mấy chục tiến sĩ được trao bằng hôm đó, một lần nữa làm cả khán phòng phải lặng đi, làm bao giọt nước mắt rơi xuống bởi bài diễn văn của mình, khi chị nói về người bạn gắn bó với chị bao năm tháng, cùng bảo vệ tiến sĩ một đợt với nhau, lẽ ra cũng sẽ có mặt trong lễ trao bằng hôm nay nhưng giờ đã làm người thiên cổ do tai nạn giao thông. Lúc này, trong chị không có “chút cảm xúc gì về thành công theo quan niệm của người đời” mà chỉ còn duy nhất một điều là hồi ức về người bạn của chị – Nguyễn Thị Hường, nên chị viết bài diễn văn này cho chị và cũng cho chính người bạn đã khuất của mình.

Với luận án được công nhận ở mức độ xuất sắc, Nguyễn Tô Lan nộp hồ sơ ứng tuyển cho học bổng học giả Visiting Scholar của Viện Harvard-Yenching. Vậy là chỉ hai tháng sau khi nhận bằng tiến sĩ, chị tiếp tục ngay một hành trình 10 tháng để phát triển nghiên cứu tại môi trường học thuật lý tưởng là ĐH Harvard. Với khả năng diễn thuyết, với mong muốn nâng cao trình độ và tăng cường giao lưu học thuật, Nguyễn Tô Lan đã trình bày những nghiên cứu của chị tại nhiều trường ĐH nổi tiếng trên đất Mỹ như ĐH Yale, ĐH Temple, Viện Harvard-Yenching và tham gia nhiều hội thảo khoa học tại Mỹ. Rời Harvard, chị tiếp tục nhận lời mời của ĐH Kyoto (Nhật Bản) với tư cách một học giả khách mời. Trong thời gian vỏn vẹn một tháng ở Nhật Bản, chị đã tận dụng mọi cơ hội để có thể trình bày các nghiên cứu của mình tại một loạt trường ĐH như Kyoto, Kanazawa, Kanagawa…

Sử dụng tốt cả hai ngoại ngữ là Anh và Trung, Nguyễn Tô Lan luôn trăn trở, đau đáu với những nỗi niềm về thư tịch cổ Việt Nam. Chị phát hiện ra rất nhiều thư tịch Hán Nôm của Việt Nam còn đang lưu lạc ở đất khách quê người, nằm trong những tàng thư của Pháp, Ý, Hà Lan, Thái Lan, Trung Quốc mà chị mong mỏi một ngày sẽ “châu về hợp phố”.

Từ một xuất phát điểm là nghiên cứu các thư tịch cổ, trong đó đặc biệt đi sâu vào văn bản tuồng qua tác phẩm Quần phương tập khánh, Nguyễn Tô Lan tiếp tục mở rộng hướng nghiên cứu của mình sang các vấn đề giao lưu và biến đổi văn hóa giữa các quốc gia Đông Á thông qua tuồng cổ và các hoạt động biểu diễn tuồng trong lịch sử cho tới ngày nay. Dự định của chị trong một ngày không xa sẽ có đủ tư liệu để từ đó phác họa một cách sơ thảo về lịch sử nghệ thuật tuồng Việt Nam.

Theo pháp luật TTP

Xem bài gốc tại đây

Câu chuyện cảm động về đầu bếp Hollywood gốc Việt Jack Lee

Jack Lee, một đầu bếp người Mỹ gốc Việt nổi tiếng chuyên chuẩn bị bữa ăn cho nhiều ngôi sao Hollywood, những tỷ phú giàu có và ẩm thực là cách để anh chia sẻ cũng như trải nghiệm những nền văn hóa khác nhau trên thế giới.

Sau nhiều cái hẹn, tôi gặp Jack Lee tại nhà hàng của anh có tên Acacia Veranda Dining trên đường Nguyễn Du. Dù khá bận rộn cho những chương trình ẩm thực chuẩn bị lên sóng trên ti vi, nhưng Jack Lee vẫn luôn có mặt ở nhà hàng, trực tiếp vào bếp nấu cho thực khách và hướng dẫn nhân viên làm bếp.

Ảnh: Nguyên Trương

Mỗi tháng, Jack Lee vẫn bay đi bay về giữa Mỹ và Việt Nam vì anh vẫn còn một công ty riêng chuyên phục vụ những bữa tiệc riêng cho khách hàng cả tỷ phú lẫn ngôi sao ở Hollywood. “Acacia là tên một loại cây ở Châu Phi và tôi muốn mở nhà hàng này để mọi người có thể tìm thấy một nơi mà những nguyên liệu món ăn, cách chế biến khoa học và rất tốt cho sức khỏe”.

Ảnh: Nguyên Trương
Mỗi món ăn Jack Lee đều rất quan trọng về nguyên liệu, cách trình bày và phải phù hợp với sở thích của người thưởng thức: “Nếu bạn muốn trở thành đầu bếp thì điều đầu tiên phải xuất phát từ trái tim. Và khi đặt cả trái tim vào món ăn, bạn sẽ thấy được niềm vui của khách sau bữa ăn. Đó chính là món quà lớn nhất dành cho đầu bếp”, Jack Lee chia sẻ.
Đầu bếp nổi tiếng Hollywood
Ảnh: Nguyên Trương
Jack Lee có tên Việt Nam là Lý Vinh Viễn, anh cùng gia đình qua Mỹ khi mới chỉ 10 tuổi. Cuộc sống ở nơi đất khách quê người không hề đơn giản chút nào đối với Jack Lee. “Phải học ngoại ngữ, làm quen với môi trường mới, làm nhiều công việc khác nhau nhưng chính khoảng thời gian đó lại cho tôi nhiều trải nghiệm đáng giá”, Jack Lee nhớ lại.
Cuộc sống vất vả là thế, nhưng Jack Lee đã tìm thấy “nguồn cảm hứng” qua những món ăn mẹ nấu mà theo suy nghĩ của anh “món ăn giúp tôi kết nối và hiểu mẹ hơn”. Rồi những khi rảnh, Jack xem những chương trình ẩm thực của Mỹ qua người đầu bếp có tên Jack. Tình yêu ẩm thực cứ lớn dần và Jack biết rằng, anh muốn trở thành đầu bếp vào một ngày nào đó.
Jack Lee và diễn viên Lisa Vanderpump của “House wife of Beverly Hills TV show”. Ảnh do nhân vật cung cấp

Công việc đầu bếp không đơn giản chút nào, Jack đã phải xin việc đến 13 lần mới có một cơ hội thực tập không trả lương ở Bel Air- một khách sạn hạng sang nổi tiếng ở Beverly Hills. Chính từ sự chăm chỉ, cần mẫu và học hỏi, Jack Lee đã giành được xuất làm việc chính thức ở Bel Air. Chính từ đây, anh có cơ hội chuẩn chị bữa ăn cho nhiều tỷ phú và những ngôi sao của Hollywood.

Nữ minh tinh Charlize Theron. Ảnh do nhân vật cung cấp

“Một lần tôi nhận được một công việc chuẩn bị bữa ăn cho một nhân vật tỷ phú trên máy bay riêng. Ông là người ăn chay nên các món ăn đều phải được chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đến khi trực tiếp gặp mặt tôi mới biết rằng mình đang nấu cho ông chủ của Apple Steve Jobs”, Jack Lee kể lại.

Jack Lee vào bếp cùng với nhạc sĩ kiêm ca sĩ Randy Jackson. Ảnh do nhân vật cung cấp
Lần khác, anh tham gia chuẩn bị thực đơn cho đám cưới của một người bạn của nữ hoàng truyền hình Oprah Winfrey. “ Cô ấy rất thân thiện và vui vẻ chào chúng tôi ở nhà bếp và rất hài lòng về những món ăn mà chúng tôi chuẩn bị”, Jack Lee chia sẻ.
Ngoài ra, Jack Lee cũng từng nấu ăn cho nhiều ngôi sao nổi tiếng khác như: nhạc sĩ kiêm ca sĩ Randy Jackson, nam diễn viên Stephen Baldwin. Don Jonson, nữ minh tinh Charlize Theron…
“Đầu bếp cũng cần sự sáng tạo và thay đổi món ăn để không trở nên nhàm chám nên rất nhiều áp lực. Tôi chú trọng vào tính cách và sở thích riêng của từng người để từ đó có thể tạo ra những món ăn hợp với họ nhất”. Jack Lee chia sẻ về bí quyết thành công của một đầu bếp.
“Nốt trầm” của cuộc đời
Cuộc đời thường xuất hiện những “nốt trầm” mà đôi khi chúng ta không thể biết trước. Và đôi khi đó là liều thuốc thử để chứng tỏ bản lĩnh đi qua những giai đoạn khó khăn. Đối với Jack Lee, anh từng sợ hãi khi mất đi vị giác, khi không thể vào bếp nấu và thưởng thức món ăn mỗi ngày. Đó thật sự là “ác mộng” đối với người đầu bếp”.
Năm 2010, Jack Lee trải qua cuộc phẫu thuật miệng và không thể đứng bếp trong suốt hơn 1,5 năm. “Lúc đó, đối với tôi tất cả dường như chỉ là màu đen, sự lạc lõng và không biết nên làm gì cả. Bạn là đầu bếp nhưng nếu mất đi vị giác thì còn nỗi sợ nào lớn hơn”, Jack Lee chia sẻ. Nhưng chính tình yêu với ẩm thực chưa đã giúp anh vượt qua được giai đoạn khó khăn và trở lại với công việc. Sau khi bình phục, Jack Lee đã sáng tạo ra những món ăn mới nằm trong bộ sưu tập “ My True Colours” để nói về những cảm xúc, sự mâu thuẫn bản thân và niềm tin.
Và sự sáng tạo ẩm thực Việt
Đầu bếp Jack Lee đi chợ Sài Gòn. Ảnh do nhân vật cung cấp

Trong những lần trở về Việt Nam, quan sát những món ăn đường phố và cách ăn uống của người Việt, Jack Lee nhận thấy mọi người vẫn chưa chú trọng về thực phẩm có lợi cho sức khỏe hay chọn lựa một cách khoa học.

Món “pizza” gà với cà tím đầy màu sắc. Ảnh: Nguyên Trương

 

“Tôi đã dành 3 ngày liên tiếp ở chợ Bến Thành và thử hết các món ăn. Tôi đọc một loạt sách về mùi vị của món ăn Việt để có thể tìm ra được “vị” chính sác nhất. Từ đó tôi phát hiện ra mình có thể thay đổi một chút và dùng ngay chính những nguyên liệu hàng ngày. Một điều tuyệt đối là không bao giờ sử dụng đường để nấu ăn”, Jack Lee tâm sự. Anh đã ra sáng tạo ra những món mới như: canh dưa hấu, nướt sốt kiwi, nước sốt vú sữa… mang một sự khác biệt.

Món thịt cừu được trang trí đầy nghệ thuật. Ảnh: Nguyên Trương
Món cá hồi kèm nước sốt. Ảnh : Nguyên Trương
Món thịt bò nhập khẩu từ Mỹ đặc biệt của nhà hàng do chính Jack Lee nấu . Ảnh: Nguyên Trương
Jack Lee đang tham gia chương trình nấu ăn để giúp phụ nữ ăn uống khoa học và đẹp hơn mỗi ngày “ tôi muốn chia sẻ cách nấu ăn cho các chị em phụ nữ để giúp họ đẹp hơn”.
Đối với Jack Lee, người đầu bếp nấu những món ăn ngon nhất nhưng lại ăn những món ăn dở nhất. Sau khi bạn đã chuẩn bị những món ăn ở bếp rồi sẽ chẳng còn thấy thích ăn nữa… Đôi khi chỉ là chiếc bánh mỳ thịt hay cháo vịt muối cũng đủ no bụng cho một ngày dài…
Hình ảnh về nhà hàng Acacia Veranda Dining: 
149-151 Nguyễn Du, Q.1
Không gian của nhà hàng mang đến cảm giác gần gũi, ấm cúng. Ảnh: Nguyên Trương
Những họa tiết sáng tạo tạo điểm nhấn cho nhà hàng Ảnh: Nguyên Trương
Không gian quầy bar. Ảnh: Nguyên Trương
Khuôn viên ban công của nhà hàng. Ảnh: Nguyên Trương
Và góc nhìn thành phố vào ban dêm. Ảnh: Nguyên Trương

M.Jordan: 100 triệu USD và câu chuyện thương hiệu

Thương hiệu cá nhân là câu chuyện hiện diện trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, và một trong những biểu hiện của nó chính là giá trị hiện kim mà cá nhân đó nhận được. Chuyện về thu nhập của siêu sao bóng rổ Michael Jordan là điển hình cho điều này.

Bóng rổ là môn thể thao hàng đầu tại Mỹ – quốc gia đang dẫn đầu kinh tế thế giới. Việc một vận động viên được xếp vào hàng huyền thoại như Michael Jordan kiếm 100 triệu USD mỗi năm là chuyện không quá khó hiểu. Tuy nhiên, kiếm 100 triệu sau khi đã giải nghệ là điều khó tưởng tượng.

Khả năng kiếm tiền siêu hạng

Theo thống kê của tạp chí Forbes hồi giữa tháng 3, Michael Jordan kiếm được 100 triệu USD trong năm 2014. Đây là thu nhập cao nhất trong lịch sử của một VĐV nghỉ hưu từ trước tới nay.

Để so sánh, Forbes dẫn ra số liệu cho thấy dù mặt bằng tiền lương của các VĐV bóng rổ khá cao, khoảng 5 triệu USD/năm, nhưng Jordan vẫn tạo nên khác biệt quá lớn. Tính rộng ra các môn thể thao nói chung, thương hiệu bóng đá toàn cầu David Beckham cũng “chỉ” kiếm 75 triệu USD trong giai đoạn cùng kỳ.

Cũng giống như các ngôi sao khác, thành tích trên sân đấu “tỷ lệ thuận” với số lượng hợp đồng quảng cáo – tài trợ béo bở. Trong trường hợp này, hãng thể thao khổng lồ Nike đang cùng Jordan tạo ra lịch sử.

Thương hiệu Nike’s Jordan đã tăng đến 17% doanh số trong lĩnh vực giày thể thao, lên mức 2,6 tỷ USD trong năm ngoái, theo thống kê của SportScanInfo. Chỉ riêng dòng sản phẩm Air Jordan XI “Legend Blue” khi được tung ra vào ngày 20/12/2014 đã bán sạch trên trang web của Nike trong vòng… 3 tiếng đồng hồ. Và với mức giá trung bình 180 USD, Nike thu tới 80 triệu USD từ “Legend Blue” trong tuần đầu tiên.

Sau lợi nhuận từ việc chia tiền bản quyền hình ảnh với Nike, Michael Jordan vẫn tiếp tục đại diện cho hàng loạt thương hiệu khác như Gatorade, Hanes, Upper Deck, 2K Sports và Five Star Fragrances.

Trong giới thể thao, Michael Jordan thực tế vẫn chưa kiếm tiền giỏi bằng siêu sao của môn thể thao quý tộc – huyền thoại làng golf Tiger Woods. Tuy nhiên điểm khác biệt ở chỗ, Woods vẫn đang chơi golf, còn Jordan thì đang thụ hưởng thành công trong quá khứ.

Nếu Tiger Woods giã từ làng golf, chuyện gì sẽ xảy ra? Không chắc anh sẽ kiếm nhiều tiền như vậy. Xét về mặt thương hiệu, hình ảnh của Woods đã xấu đi khá nhiều từ những vụ bê bối trong lối sống. Với Jordan thì khác, và đó là một thành tựu trong chiến dịch quảng bá của Nike.

“Nike đã làm một việc không thể tin được là phát triển thương hiệu Michael Jordan thuần túy về bóng rổ trở thành một biểu tượng về lối sống”, Eric Tracy – một nhà phân tích về Nike tại Janney Capital Markets nói, “Điều đó đã thu hút được một thị trường lớn hơn rất nhiều”.

Jordan đang thụ hưởng thành công trong quá khứ.

Tracy chỉ ra rằng Nike đã khai thác triệt để thương hiệu Jordan bằng việc liên tục làm mới các dòng sản phẩm mang phong cách Jordan, đại diện cho khoảng 50% các nhãn hàng giày của Nike’s Jordan. Và khi tung ra sản phẩm nào, Nike cũng đều không sản xuất ngang tầm nhu cầu, điều đó khiến người hâm mộ Jordan luôn lùng kiếm và khao khát hơn nữa, theo Tracy.

Sự tương tác giữa Jordan và Nike tất nhiên vẫn cần nhất ở việc Michael Jordan biết giữ gìn hình ảnh của mình.

“Những vận động viên tạo ra thương hiệu cho bản thân trước khi mọi người tập trung vào thương hiệu tài trợ”, Marc Ganis – Chủ tịch hãng tư vấn thể thao Sportscorp nói.

Và nếu xem LeBron James là siêu sao bóng rổ đương đại, hãy chú ý rằng nhãn hiệu giày Nike’s Jordan đang có doanh số gấp… 10 lần những gì chữ ký của James mang lại cho Nike. Sẽ rất công bằng nếu biết Michael Jordan là người nổi tiếng thứ tư tại Mỹ, và 98% người Mỹ biết đến Jordan như họ biết Tổng thống Mỹ Barack Obama, theo Forbes.

Trong một chiến dịch tài trợ, thương hiệu cá nhân và thương hiệu quảng bá luôn cần sự song hành. Và nếu hỏi rằng Nike có tiếp tục gắn bó với Jordan, 52 tuổi, hay không, hãy chú ý rằng vào ngày 20/3 vừa qua, Jordan đã gia hạn hợp đồng với Upper Deck – đối tác lâu năm. Một khi tự thân Jordan chưa dừng lại ở việc đánh bóng tên tuổi, Nike không phải lo cho những chiếc giày của họ nữa.

Theo Doanh Nhân Sài Gòn

Xem bài gốc tại đây

Người giàu chọn các nước nói tiếng Anh cho con du học

Giới thượng lưu Trung Quốc ngày càng muốn gửi con cái du học tại các quốc gia nói tiếng Anh, trong đó bậc đại học tại Mỹ và trung học tại Anh đang là những môi trường hấp dẫn nhiều người nhất.

Một sinh viên Trung Quốc 20 tuổi học tập tại Đại học bang Michigan, Mỹ. Ảnh: NYTimes

Các gia đình giàu có Trung Quốc từ lâu đã mong muốn giáo dục chất lượng cao cho con cái. Ngày nay có thể bắt gặp người Trung Quốc tại bất kỳ khuôn viên trường đại học nói tiếng Anh nào.

Theo cuộc khảo sát người tiêu dùng xa xỉ Trung Quốc trong năm nay, Mỹ vẫn là môi trường đại học yêu thích của các gia đình giàu có Trung Quốc, sau đó là Anh, Australia, Canada và New Zealand.

Đây là lần đầu tiên New Zealand lọt vào top 5, sau khi vượt qua Thụy Sĩ, chủ nhân của vị trí này vào năm ngoái. “Việc New Zealand ở trong top 5 cho thấy nước này đã xây dựng được chương trình giáo dục toàn cầu, thu hút được những gia đình thành công nhất Trung Quốc”, Rupert Hoogewerf, người sáng lập, chủ tịch và trưởng nhóm nghiên cứu của Báo cáo Hurun, tổ chức công bố cuộc khảo sát, cho biết.

“Hệ thống giáo dục toàn diện của New Zealand có tính cạnh tranh vào bậc nhất trên thế giới”, ông nói thêm.

Tuy nhiên, mặc dù các trường đại học Mỹ vẫn là mục tiêu của nhiều gia đình Trung Quốc, xu hướng này có sự thay đổi ở bậc trung học. Những gia đình giàu có nhất hiện yêu thích nước Anh hơn.

“Anh có lợi thế lớn về trường học, đặc biệt là các trường nội trú. Càng ngày càng có nhiều người Trung Quốc muốn gửi con em mình đến Anh và Mỹ, trong khi một thập kỷ trước đó thường là Canada và Australia”, Hoogewerf cho biết.

Hoogewerf cũng nói thêm rằng 80% gia đình giàu có ở Trung Quốc hiện có ý định gửi con cái ra nước ngoài. Điều này khiến việc lựa chọn điểm đến du học là quyết định ngày càng quan trọng và có ảnh hưởng. Các triệu phú thường cho con cái du học khi các em 16 tuổi, trong khi con số này là 18 đối với con cái của các tỷ phú.

Gần 275.000 sinh viên Trung Quốc theo học tại các trường đại học Mỹ trong niên khóa 2013-2014, chiếm 31% sinh viên quốc tế ở Mỹ. Con số này tăng 75% chỉ trong ba năm. Trung Quốc chiếm tỷ lệ sinh viên quốc tế lớn nhất tại các trường đại học Anh, khoảng 20% tổng số sinh viên nước ngoài.

Theo báo VNexpress.

Xem chi tiết tại đây.

Lái xe vòng quanh nước Mỹ theo tuyến đường nào ngắn nhất?

Nếu có một công cụ tối ưu hóa việc tìm kiếm đường đi bằng thuật toán, liệu bạn có cần đến bản đồ giấy?

Randy Olson, người đang phát triển hệ thống tìm kiếm đường đi tối ưu qua internet thông qua thuật toán để tính các tuyến đường cần cho việc di chuyển với thời gian nhanh nhất có thể.

Olson đã đặt lệnh tìm kiếm hành trình nhanh nhất mà lái xe sẽ dừng lại ở một mốc cố định, di tích lịch sử quốc gia, công viên quốc gia hoặc di tích quốc gia ở tất cả hơn 48 tiểu bang. Bao gồm cả Washington, DC và thêm một điểm dừng ở California để có tổng cộng 50 điểm dừng trên toàn nước Mỹ.

Ông đã tính toán con đường đi nhanh nhất để đi đến được 50 địa danh qua 2500 tuyến đường trên toàn nước Mỹ.

Kết quả cho ra con đường mà bạn nhìn thấy trên bản đồ, trong đó bao gồm điểm dừng tại Grand Canyon, Alamo, Mount Vernon, Graceland, Nhà Trắng, tượng Nữ thần Tự do, và điểm dừng khác Bạn có thể bắt đầu ở bất kỳ đâu và di chuyển theo các con đường hiện lên trên bản đồ.

 

Ông tính toán, nếu bạn không ngủ, hoặc dừng vì giao thông, bạn sẽ mất khoảng 9,33 ngày để lái xe vòng quanh nước Mỹ. Trong thực tế, việc này phải mất đến 2-3 tháng.

Nếu bạn muốn theo dõi các tuyến đường đi khác nhau để đến các địa danh tại Mỹ, bạn có thể tham khảo thêm tại đây

Theo washingtonpost

Xem bài gốc tại đây

10 trường đại học nổi tiếng nhất thế giới

Theo bảng xếp hạng mới của Times Higher Education (THE), Đại học Harvard được xếp vị trí đầu tiên cho các trường nổi tiếng nhất thế giới

Mỹ thống trị danh sách, với 43 trường đại học trong top 100, trong đó có 8 trường nằm trong top thế giới. THE đã khảo sát 10.507 học giả có uy tín trong năm 2015 để cho ra kết quả này.

Bảng xếp hạng này có vai trò quan trọng để các trường có thể thu hút nhiều sinh viên giỏi cũng như học giả uy tín về học tập và nghiên cứu.

Dưới đây là danh sách 10 trường tốt nhất thế giới.

  1. Harvard University
  2. University of Cambridge (United Kingdom)
  3. University of Oxford (United Kingdom)
  4. Massachusetts Institute of Technology
  5. Stanford University
  6. University of California at Berkeley
  7. Princeton University
  8. Yale University
  9. California Institute of Technology
  10. Columbia University

Theo businessinsider

Xem bài gốc tại đây

Tại sao Diet Coke không hề “diet” chút nào? – Tìm hiểu về chất tạo ngọt trong thực phẩm

Vũ Công Danh

Đoạn quảng cáo “Real coke taste and zero calories. Two amazing things combined to make one super amazing thing” cho một sản phẩm diet soda (nước ngọt cho người ăn kiêng) làm tôi liên tưởng đến tác dụng tuyệt vời của các chất thay thế đường hay còn gọi là các chất tạo ngọt nhân tạo (artificial sweeteners) mà chúng ta gọi nôm na là “đường hóa học”.

Các công ty thực phẩm thường quảng cáo về lợi ích của đường hóa học và sử dụng chúng trong các sản phẩm dành cho người ăn kiêng hay muốn giảm cân. Các lợi ích có thể kể đến đó là:

  • Giúp giảm cân (weight loss). Vì các chất tạo ngọt rất ít hoặc không góp phần tạo năng lượng nên chúng được dùng với mục đích “ăn kiêng” giúp giảm lương calorie trong khẩu phần ăn (caloric intake). Ví dụ, với những ai ưa thích nước ngọt mà sợ “mập” thì cứ nhắm mấy sản phẩm soda có in “diet” trên bao bì mà “làm tới”.
  • Chăm sóc răng miệng (dental care): các vi khuẩn không lên men được các chất tạo ngọt nên tránh được sâu răng. Ví dụ xylitol được dùng phổ biến trong các sản phẩm chewing gum.
  • Sản phẩm cho người tiểu đường: giúp những người mắc bệnh này hạn chế sử dụng nhiều đường nhưng không làm thay đổi vị ngọt trong thức ăn/uống.

Như chúng ta biết, đường là chất tạo năng lương chính cho cơ thể. Tuy nhiên, từ “đường” hiểu thông thường là chất tạo vị ngọt dạng tinh thể có công thức hóa học là C12H22O11 (saccharose gồm glucose và fructose) được dùng hằng ngày trong ăn uống, chế biến thực phẩm.

Saccharose có nhiều trong mía, củ cải đường nên đôi khi còn được gọi là đường mía. Ngoài ra, trong sữa có đường sữa (lactose) cũng có công thức thu gọn là C12H22O11 nhưng gồm 2 hợp phần là glucose và galactose, kém ngọt hơn đường mía.

Vậy thế nào là chất tạo ngọt nhân tạo?

Đó là phụ gia thực phẩm được sử dụng nhằm tạo vị ngọt tương tự như đường (sugar – saccharose, sucrose) cho sản phẩm thực phẩm, nhưng rất ít hoặc không tạo năng lượng cho cơ thể. Một số chất tạo ngọt phổ biến có thể kể đến như:

  • Aspartame: độ ngọt gấp 160 – 200 lần so với saccharose. Loại đường có nguồn gốc từ amino acid này còn được gọi với tên khác (theo FDA) là aminosweet, thường dùng trong thức uống diet, chewing gum
  • Acesulfame-K: có độ ngọt tương đương với aspartame. Cũng như loại đường nói trên, acesulfame K thường được dùng trong các sản phẩm thức uống diet, đường ăn kiêng cho người bệnh tiểu đường. Để hạn chế vị đắng nhẹ của ace-K, người ta thường kết hợp nó với aspartame hay sucralose.
  • Saccharine: ngọt gấp 300 lần saccharose, loại đường này được dùng trong một số sản phẩm bánh kẹo, thuốc hoặc kem đánh răng.
  • Cyclamate (sodium cyclamate): bị cấm sử dụng bởi FDA mặc dù EU vẫn cho phép với liều lượng tối đa 0.65g/kg. Độ ngọt khoảng 30 lần so với saccharose.
  • Xylitol: khác với những loại đường tổng hợp kể trên, xylitol được tìm thấy trong thành phần của nhiều loại rau quả. Độ ngọt tương đương đường mía, xylitol thường dùng trong thành phần của chewing gum hay lozenges có tác dụng bảo vệ răng miệng.

Các chất tạo ngọt đóng một vai trò rất quan trọng trong vấn đề ăn uống hằng ngày của chúng ta. Các nhà sản xuất có thể tung ra thị trường nhóm sản phẩm nước ngọt có gas “zero calorie” nhưng vẫn giữ được vị ngọt và hương vị đăc trưng của nó. Vấn đề răng miệng cũng không còn là mối lo lắng nữa khi bánh kẹo có chứa các thành phần đường thay thế. Những người bệnh tiểu đường không còn phải lo lắng nhiều về vấn đề ăn uống khi các chất tạo ngọt đã và đang làm rất tốt vai trò chất tạo vị cũng như giúp kiểm soát lương đường trong máu.

Tuy nhiên, việc dùng đường thay thế về lâu về dài cũng đang gây ra nhiều tranh cãi liên quan đến sức khỏe của người sử dụng. Theo giáo sư David S. Ludwig (trường Y khoa Harvard và Bệnh viện Nhi Boston), do đặc tính rất ngọt của đường thay thế, người sử dụng có thể trở nên “lờn” với vị ngọt, những loại rau quả, trái cây hoặc những thực phẩm có lợi cho sức khỏe vốn ít ngọt sẽ không còn hấp dẫn nữa, và người ăn không còn cảm thấy ngon miệng. Kết quả là chất lượng bữa ăn kiêng bị giảm sút.

Chúng ta cho rằng các chất tạo ngọt nhân tạo không sinh năng lượng sẽ giúp giảm cân hiệu quả. Tuy vậy, thực tế cho thấy đường và nhóm tạo ngọt sinh năng lượng như high fructose corn syrup (HFCS) là các thủ phạm gây bệnh béo phì mà ở nhiều nơi trên thế giới đã trở thành “dich bệnh”. Phải chăng do những nỗ lực marketing xuất sắc trong ngành công nghiệp đồ uống “diet” đã dẫn đến một quan niệm rằng chất đường nhân tạo là thực phẩm lành mạnh? Nhiều nghiên cứu quy mô trên người lớn cũng như trẻ em gần đây cho thấy việc dùng các chất đường này hoặc uống các sản phẩm nước ngọt “diet” trong thời gian dài đều làm tăng chỉ số BMI, đồng nghĩa với việc tăng cân.

Theo Susan Swithers, giáo sư thuộc khoa nghiên cứu hệ thần kinh Đại học Purdue, West Lafayette, Indiana , những nghiên cứu về nhóm người thường uống nước ngọt “diet” cho thấy rằng họ có nguy cơ tăng cân và bị béo phì cao hơn so với những người không uống bất cứ loại soda nào. So với nhóm người kiêng dùng nước ngọt nói chung, nhóm “fan” của “diet soda” dường như có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2 và bệnh tim cao hơn.

Tại sao như vậy?

Cơ chế tiêu hóa đường hóa học

Về cơ bản, chúng ta có thể hiểu như sau: nếu thế giới quanh ta không có đường “hóa học”, khi đó vị ngọt của thức ăn sẽ báo cho não và hệ tiêu hóa chuẩn bị hấp thu calorie. Tuy nhiên, khi calorie không xuất hiện đối với trường hợp chất tạo ngọt nhân tạo, quá trình trao đổi chất sẽ không diễn ra theo cách trên. Lượng insulin không tăng lên, hormones báo hiệu sự no cũng không hoạt động. Vì thế bộ não cũng không nhận được tín hiệu từ dopamine (hợp chất cần thiết cho hoạt động của hệ thần kinh trung ương) cho thấy các loại đường được sinh ra. Trong khi miệng thì phát tín hiệu, não và hệ tiêu hóa thì không lắng nghe. Kết quả là khi đường và calorie thực sự xuất hiện, cơ thể đáp lại không mạnh mẽ như cách thông thường. Calorie sinh ra không đủ lượng cần thiết làm cho chúng ta không cảm thấy no, vì thế sẽ không có tín hiệu dừng việc ăn khi cần thiết.

Các chất tạo ngọt nhân tạo có thể “tiếp tay” cho cái gọi là “thay đổi nhận thức” theo cách gọi của các nhà tâm lý học. Theo cách đó, nó cho phép chúng ta đánh lừa chính bản thân mình rằng chúng ta có thể ăn nhiều calorie hơn mức cần thiết.

Về lâu về dài, việc uống “diet soda” có thể làm tổn hại đến các quá trình giúp kiểm soát cân nặng của chúng ta, cũng như lượng đường máu. Do đó nếu bạn muốn giảm cân thì nước có thể là thứ đồ uống tốt nhất – diet soda không có ích gì với quá trình “diet”, mà thậm chí còn có tác dụng ngược lại.